REJOINDER: TRƯỜNG HỢP CÓ TỈ LỆ CÂN ĐỐI
(REJOINDER: THE CASE FOR PROPORTIONALITY)
Andrew Reynolds.
Andrew Reynolds là phó giáo sư ngành khoa học chính trị tại
Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Ông quan tâm đến những vấn đề về bầu cử
và dự thảo Hiến pháp trên phần lớn các quốc gia. Cuốn sách mới nhất của ông có
tên Cấu trúc của Dân chủ: Dự thảo Hiến pháp (constitutional design), Quản trị
xung đột và Dân chủ (2002). This essay được tờ Tạp chí Dân chủ (Journal of
Democracy) phát hành vào tháng 10 năm 1995.
Trong “Bầu cử trong xã hội nông nghiệp” (Elections in Agrarian
Societies), Joel Barkan đặt ra 1 thách thức lớn đến the newly emerging
conventional wisdom rằng proportional representation (PR) là cách thức bầu cử tốt
nhất dành cho những người thiếu kinh nghiệm – and often highly
divided-democracies of Africa. Trước tiên, ông phân tích những điểm yếu của PR
(or even severing) trong sự liên kết giữa những MPs riêng lẻ và những cử tri.
Chúng cản trở sự phát triển của chiều kích “thẳng đứng” (“vertical” dimension)
của dân chủ (đó là mối quan hệ tiêu biểu giữa những thành phần ưu tú và những
thành phần không ưu tú trong cùng một lợi ích chính trị chung), “giảm bớt những
triển vọng về sự thống nhất của luật lệ dân chủ” (tr.136). Theo Barkan, mối
quan hệ giữa những đại diện và những người bầu cử tồn tại trong một
single-member district (SMD) phản ánh rõ nhất bản chất của xã hội nông nghiệp tại
Châu Phi, mà những ràng buộc mạnh nhất là ở mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng
giềng và đất canh tác, đồng thời mọi người “xác định rõ những lợi ích chính trị
của họ… trên cơ sở nơi mà họ sống” (tr.136). Trong khi đồng tình rằng một vài cấp
độ của tính cân đối (thể hiện ở sự bảo vệ quyền lợi thiểu số) là a normative
good, ông cũng chỉ rõ rằng khuôn khổ sự phân chia bầu cử theo địa lý trong các
xã hội nông nghiệp cho phép hệ thống đa nguyên SMD (SMD plurality systems) bầu
ra quốc hội, đó là sự phản ánh hợp lí của sự phân bổ phiếu phổ thông trên cả nước.
Do đó họ có thể giữ lại một trong những trụ cột của chính phủ liên hiệp (a
proportionally constituted parliament) trong khi tránh xa những hạn chế cơ bản
của PR: Tình trạng phân rã và thiếu trách nhiệm giải trình của những người đại
diện được chọn lựa trong danh sách các bên.
Sự thật là khi mô hình bỏ phiếu gắn liền với sự chia tách giữa
các nhóm mà các nhóm ấy được xác định bới những đặc điểm tiêu biểu (ví dụ như
chủng tộc, sắc tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo), và khi những nhóm khác tập hợn lại
ở những khu vực khác nhau, cuộc bầu cử được tổ chức bởi SMD plurality có thể
đem lại kết quả với tỉ lệ cao. Barkan cũng nhấn mạnh rằng, cuộc tổng tuyển cử
năm 1994 ở Malawi đã bầu ra một quốc hội mà quốc hội này là hình ảnh trung thực
về sự phân bố phiếu phổ thông trong ba đảng chủ chốt. Chỉ số mất cân đối (ID) của
cuộc bầu cử đo được mức độ mà sự phân bố các vị trí trong quốc hội giữa những đảng
khác nhau bằng với sự phân bố các lá phiếu, con số 0 cho thấy một kết quả hoàn
toàn cân xứng. Tỉ số trong những số liệu về cuộc bầu cử của người Malawi (2.1)
thấp hơn những tỉ số trong tất cả những cuộc bầu cử đa nguyên but three of the established democracies for
which data are presented in Arend Lijphart’s comprehensive Electoral Systems
and Party Systems, bao trùm trong suốt giai đoạn từ 1954 đến 1990 (1). Tương tự,
bầu cử quốc hội phân bổ theo địa phương năm 1985 ở Zimbabwe có chỉ số ID là
2.5, sự lặp lại với cuộc bầu cử quốc hội năm 1994 ở Nam Phi và Namibia (được tổ
chức bởi hệ thống PR) chỉ ra rằng SMD plurality có kết quả với tỉ lệ tương đối,
ID vào khoảng 6.7 và 4 với từng quốc gia. (2)
Chỉ số ID của các quốc gia đã diễn ra bầu cử cho chúng ta biết
nhiều hơn về thành phần của quốc hội. Chỉ số ID cao có khả năng cao được hiểu
như sau: 1) Những đảng thiểu số (minority parties) được nhận ít hoặc không có
người đại diện; 2) Những đảng lớn được thêm nhiều hơn số ghế mà họ có được từ
những lá phiếu phổ thông; 3) Các chính phủ với 100% quyền hành pháp are being
catapulted into the office với số phiếu nhỏ hơn 50% phiếu phổ thông; 4) Các
chính phủ dựa trên đa số phiếu bầu nhận quyền lực của đại đa số (Ở Nam Phi,
where the use of a plurality system would have provided the African National
Congress [ANC], nhận được 62% phiếu với 2/3 số ghế trong Quốc hội – đủ thẩm quyền
để viết bản hiến pháp mới mà không gặp bất kì sự cản trở nào).
Trường
hợp cá biệt
Những bằng chứng ở Malawi năm 1994 và ở Zimbabwe năm 1985
(và giả định ở cả Nam Phi và Namibia) dường như có ngụ ý rằng, ở phía Nam châu
Phi, SMD plurality có thể cung cấp “the best of both world” – a proportionally
constituted parliament, song song với những lợi ích tiêu biểu của a
district-based system. Barkan cho rằng “trong các xã hội nông nghiệp… PR không
tạo ra những kết quả bầu cử công bằng hơn hay toàn diện hơn so với bầu cử đa
nguyên dựa trên SMDs” (tr.163). Tuy nhiên, kết quả ở Malawi và Zimbabwe không
được phản chiếu trong nền dân chủ đã được thành lập ở Châu Phi nói chung, hay ở
nam Châu Phi nói riêng. Tóm lại, đó là những trường hợp cá biệt và chúng ta phải
chú ý để không bị chúng đánh lạc hướng.
Tính trung bình, năm quốc gia sử dụng SMD plurality cho bầu
cử dân chủ tại nam châu Phi từ 1956 có chỉ số ID ngang hàng với bầu cử đa
nguyên ở các quốc gia khác trên thế giới (Bảng 1).
BẢNG 1
a. 13
cuộc bầu cử tại Botswana, 1965-1994; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991;
Zimbabwe, 1985 (common roll), 1990, 1995.
b. 6
cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Nam Phi,
1994, Zimbabwe, 1980.
c. 20
cuộc bầu cử tại Boswana, 1965-1994; Gambia, 1966-1992; Kenya, 1992; Lesotho,
1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985-1995.
d. 13
cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Benin, 1991; Burkina Faso, 1992; Burundi, 1993;
Cape Verde, 1991; Madagascar, 1993; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994;
Niger, 1993, 1995; Nam Phi, 1994; Zimbabwe, 1980.
e. Được
tính từ số liệu của 78 cuộc bầu cử tổ chức theo plurality ở 5 quốc gia: Canada,
1945-1988; Ấn Độ, 1952-1984; New Zealand, 1946-1990; Vương quốc Anh, 1945-1992;
Hợp chúng quốc Hoa Kì, 1946-1994.
f. Được
tính từ số liệu của 212 cuộc bầu cử được tổ chức theo các cách thức PR khác
nhau trên 17 quốc gia: Áo, 1945–1990; Bỉ, 1946–1987; Costa Rica, 1953–1990; Đan
Mạch, 1945–1988; Phần Lan, 1945–1987; Đức, 1945–1987; Iceland, 1946–1987;
Ireland, 1948–1989; Israel, 1949–1988; Italy, 1946–1987; Luxem-bourg, 1945–1989;
Malta, 1947–1987; Netherlands, 1946–1989; Norway, 1945–1989; Bồ Đào Nha, 1975–1989;
Sweden, 1948–1988; Switzerland, 1947–1987.
Ghi chú cách tính: least squares index được phát triển bởi
Michael Gallagher. Đọc “Tính cân bằng, Mất cân bằng và Hệ thống bầu cử”, Nghiên
cứu bầu cử (1991): 22-51. Nguồn: Trên phạm vi châu Phi, những phép tính của tác
giả có được trên cơ sở những dữ liệu tại “The Political Originas and
Consequences of Electoral Systems in Africa: A Preliminary Analysis” của
Shaheen Mozaffar (paper được trình bày tại hội nghị “So sánh những cuộc bầu cử
dân chủ” (Comparative Democratic Elections), trường phái Kenedy về Chính phủ, Đại
học Harvard, 5/1995); với các nền dân chủ đã được thành lập, các phép tính dựa
trên số liệu được trình bày tại Hệ thống bầu cử và Hệ thống Đảng (Electoral
Systems and Party Systems) của Arend Lijphart (New York: University Press,
1994), và được bổ sung bởi Reynolds.
Các kết quả có phần cân đối ở phạm vi châu Phi song lại hơi
thiếu cân đối so với các nền dân chủ đã được thiết lập – Britain and the
inheritors of her “first-past-the-post” electoral system. Không những thế, những
đại biểu của bầu cử PR chỉ ra rằng, bất chất chỉ số IDs for plurality tại
Malawi và Zimbabwe ở mức thấp, when it comes to trans-lating votes into seats,
PR is not just marginally superior to SMD plurality but substantially so. Bằng
chứng trên khắp châu Phi cho thấy việc sử dụng 1 hệ thống bầu cử dựa trên SMDs
không đảm bảo được tình trạng cân đối của kết quả bầu cử. Điều đó đúng cả với
các xã hội nông nghiệp, nơi mà những mô hình bầu cử được tập trung theo khu vực
địa lý. Nó cũng kéo theo việc nếu tính cân đối là một đặc trưng thiết yếu cho nền
dân chủ liên hiệp (consociational democracy), plurality không được tin cậy để đảm
bảo sự cân đối đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét