Chương
7: NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HỆ THỐNG ĐẦU PHIẾU ĐẠI DIỆN TỶ LỆ
Guy Lardeyret
Guy Lardeyret là chủ tịch của Viện Dân Chủ (Institut
pour la Démocratie) có trụ sở tại Paris, là một tổ chức phi chính phủ hiện đang
cung cấp những chính sách tư vấn và hỗ trợ cho các nguyên thủ quốc gia, các
quan chức chính phủ, hoặc các nhà lãnh đạo đảng tại khoảng 20 quốc gia ở châu
Á, châu Phi, Trung Đông, Đông Âu và Nam Mỹ. Bài viết này xuất hiện lần đầu trong
số ra mùa hè năm 1991 của Tạp chí Dân chủ
(Journal Of Democracy).
Trong bài viết “Lựa chọn Hiến pháp cho những nền
dân chủ mới”, Arend Lijphart đã cố gắng cung cấp bằng chứng khoa học để khẳng định
tính ưu việt của hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (proportional representation
– PR), so với hệ thống bầu cử đầu phiếu đa số trong những nền chính trị đa
nguyên. Tác giả bài viết trình bày một chuỗi phân tích so sánh được thiết kế để
cho thấy rằng những chế độ lấy điểm tựa là hình thức bầu phiếu đa số tương đối
(plurality voting system) không thể so sánh được với hình thức bầu phiếu đại diện
tỷ lệ về mặt “hiệu lực dân chủ”.
Lijphart xem xét các tác động của hệ thống bầu cử
trên tám biến số, mà chúng tôi sẽ xem xét sau đây. Mối tương quan đầu tiên cho
thấy rằng hình thức PR sẽ thúc đẩy sự trỗi dậy của các lực lượng “thiểu số” và
các nhóm áp lực (pressure group). Đặc trưng ấy được thể hiện rõ bởi số liệu thống
kê cho thấy những nhà lập pháp là nữ giới đông hơn hẳn ở các nước Bắc Âu, và
theo đó có xu hướng đầu tư nhiều hơn cho mục đích chính trị. Mặc dù truyền thống
vẫn có vai trò nhất định ở đây, hiện tượng này là hệ quả của hệ thống PR: danh
sách ứng cử viên được lựa chọn bởi các nhà lãnh đạo đảng, những người vốn dễ chịu
tác động của những phong trào nữ quyền mạnh mẽ.
Hiện tượng ấy cũng chưa làm rõ mối quan hệ giữa
hệ thống PR và sự tham gia của cử tri. Nếu chuỗi tính toán này dựa trên cơ sở
châu Âu (xét theo tỷ lệ cử tri đã đăng ký), thì giới cử tri của Hoa Kỳ hóa ra
cũng hành động tương tự như của Tây Âu. Hơn nữa, chu trình của Lijphart thực ra
sẽ rất khác, nếu ông đã không chủ ý tạo ra một số quyết định rất có vấn đề
trong việc phân loại quốc gia. Ví dụ, nước Pháp có thể được tính là một nền dân
chủ đầu phiếu đa số theo chế độ tổng thống cũng như Hoa Kỳ. Đức (nước sở hữu hệ
thống bầu cử hỗn hợp để quyết định vấn đề dựa trên số đông) thuộc vào các nước
có chế độ nghị viện đầu phiếu đa số, trong khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (các
nước mà Lijphart bỏ qua) nên được xếp trong nhóm thứ ba, các nền dân chủ nghị
viện sử dụng hình thức PR.
Chuỗi số liệu tiếp theo của Lijphart chỉ ra rằng
các nước Bắc Âu sở hữu chế độ phân phối thu nhập quốc dân công bằng hơn, một biểu
hiện chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nếu tồn tại mối liên hệ giữa hệ thống bầu cử
và mức độ bình đẳng kinh tế ở các nước này, thì việc ấy cũng chẳng dây dưa nhiều
với hình thức dân chủ. Khi phe bảo thủ giành chiến thắng trong bầu cử ở các nước
như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan, họ phải xây dựng liên minh với các
đảng khác, vốn chỉ khiến những nỗ lực theo đuổi chương trình dân chủ được uỷ
quyền nhằm làm giảm gánh nặng phúc lợi xã hội của họ càng gặp nhiều bất trắc.
Việc Lijphart sử dụng hệ thống Robert Dahl nhằm
xếp hạng “chất lượng của nền dân chủ” chỉ càng tạo ra nhiều truy vấn về những
tiêu chí đo lường thỏa đáng nhất cho hiệu lực của nền dân chủ. Nếu chỉ số đo lường
ấy bao gồm các biến số như lượng cử tri đi bầu (đo ở Hoa Kỳ), số lượng các đảng
phái, và sức mạnh của các nhóm lợi ích, vậy thì ngay từ đầu tiêu chí này đã
nghiêng về xu hướng ủng hộ mạnh mẽ hình PR với dạng hình mẫu quốc gia này.
Cuối cùng, mối tương quan với lạm phát, tình
hình tăng trưởng kinh tế, và tình trạng thất nghiệp (một chỉ số thường bị đánh
giá thấp ở các nước Bắc Âu vì lượng công việc được bảo hộ rất cao) rất khó để
khai thác ở đây. Những chỉ số này vốn chịu ảnh hưởng rất mạnh từ nhiều yếu tố
quan trọng khác.
Hệ quả
của việc lựa chọn hệ thống bầu cử
Ngay từ đầu, Lijphart đã chấp nhận một giả thuyết
nền tảng – cụ thể là hệ thống bầu cử chủ yếu được xác định bởi hệ thống đảng phái
và qua đó làm nên cấu trúc của chính phủ. Do đó, các quốc gia lấy điểm tựa là hệ
thống đầu phiếu PR sẽ xây dựng được chính phủ đa đảng cầm quyền và mang tính
liên minh, trong khi các nước sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối sẽ duy
trì nền chính trị lưỡng đảng và chính phủ do một đảng cẩm quyền. Tuy nhiên, như
chính Lijphart đã nhấn mạnh, các luồng tư tưởng thường mâu thuẫn về việc hệ thống
các đảng phái ảnh hưởng thế nào đến việc thực hành hiệu lực quản lý nhà nước
dân chủ. Vậy nên, đây chính xác là thời điểm vàng mà Lijphart nên tận dụng để
kiểm tra tính xác thực của giả thuyết dựa trên dữ liệu thực nghiệm.
Phân tích như vậy đã chỉ rõ rằng một nền chính
trị lưỡng đảng sẽ duy trì sự ổn định và khả năng ra quyết định của thể chế, cũng
như hỗ trợ những chu kỳ tái cấu trúc quyền lực. Còn nền chính trị liên minh sẽ không
thể tương tác theo chiều thuận với thể chế về lâu dài, chủ yếu chỉ trong những
giai đoạn khi các cơ quan chủ chốt chưa kịp lấp đầy nhân sự, và cần đến những
cuộc bầu cử lặp đi lặp lại, và sau đấy dẫn đến những nhiệm kỳ dài một cách bất
thường của các chính trị gia quan trọng vì quyền lợi của nhóm lợi ích. Hơn nữa,
một quốc gia càng có nhiều đảng phái thì càng dễ bế tắc trong hiện tượng như vậy.
Còn khi thể chế lấy điểm tựa là một đám đông đồng
nhất, cấu trúc này sẽ duy trì được quyền lực trong thời gian ủy thác (đấy là sự
ổn định); có thể dễ dàng thực thi những chính sách thiết yếu (đấy là hiệu lực);
và rất có thể, nếu hệ thống này suy sụp, thì thực ra quyền lực cũng chỉ trở về tay
một đám đông đối lập mạnh mẽ và đoàn kết (đấy là sự luân phiên). Ngược lại, kiểu
chính phủ liên minh rất thường xuất hiện như hệ quả của hình thức PR thường
không thể chống chịu được những mâu thuẫn nghiêm trọng về chính sách (đấy là sự
không ổn định); cần quá nhiều thời gian để xây dựng các liên minh mới có thể hoạt
động (đấy là khoảng trống trong điều hành); và khi kiểu thể chế này tan vỡ, các
cuộc bầu cử tuy mới nhưng gương mặt trọng yếu thì vẫn cũ (không có sự đổi mới).
Quan điểm cho rằng PR thúc đẩy sự trỗi dậy của các
lực lượng “thiểu số” là đúng, theo nghĩa như sau: PR cho phép bất kỳ nhóm áp lực
nào được tổ chức tốt – có thể là một công đoàn, một nhóm tôn giáo, một nhóm sắc
tộc, một nhóm những người cùng nghề, hay một nhóm tư tưởng – một cơ hội để
giành vị thế trong thể chế. Chỉ cần một tập thể như vậy tạo được ra xung lực hướng
đến một vấn đề trọng yếu của xã hội như chủ đề bảo vệ môi trường thì họ có thể
thu hút phiếu bầu.
Xu hướng phân ly giới cử tri như vậy rõ ràng tạo
ra quán tính làm trầm trọng thêm xung đột xã hội. Ví dụ, việc hệ thống PR xuất
hiện trong các cuộc bầu cử cấp địa phương và châu lục ở Pháp những năm 1980 đã
tạo cơ hội cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của đảng Mặt trận Quốc gia (National Front)
của Jean–Marie Le Pen (FN), một đảng cực hữu lên án những người nhập cư. Sau
đó, chính uy thế của đảng Mặt trận Quốc gia đã trở thành lý do cho sự hình
thành của một loạt tổ chức cánh tả “chống phân biệt chủng tộc” nhưng thực chất cũng
tỏ ra kém nhượng bộ như chính đảng FN. Một nền chính trị nhiều bất trắc như vậy
rõ ràng là hệ quả của hình thức bầu cử PR.
Cũng không khó để chỉ ra rằng hình thức bầu cử
PR còn là mối nguy hiểm cho các nước đang phải đối mặt với xung đột sắc tộc hay
văn hóa. Ví dụ, ở Bỉ, các cộng đồng ngôn ngữ đã xuất hiện ngay khi kiểu bầu cử
PR được giới thiệu vào đầu thế kỷ này. Nền chính trị ở Bỉ giờ trở thành đấu trường
cho xung đột lâu dài giữa nhóm Flemings và nhóm Walloons của khối Pháp ngữ. Nếu
không có chế độ quân chủ để củng cố sự đoàn kết quốc gia, nền chính trị ở Bỉ
hoàn toàn có thể sụp đổ.
Chúng ta cũng cần nhắc lại những rủi ro của kiểu
chính phủ liên minh. Hình thái chính phủ như vậy thường miễn cưỡng đưa ra những
quyết định không được ưa chuộng vì sự kháng cự của một số phe phái trong chính
liên minh. Vấn đề Palestine trong chính trường Israel có thể sẽ không bao giờ
được giải quyết trừ khi người Israel thay đổi luật bầu cử của họ hoặc áp lực quốc
tế có tác dụng.
Hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ có xu hướng đem
lại cho các phe phái nhỏ thứ quyền lực không hề tương xứng với quy mô của họ, bởi
vì chính các phe ấy kiểm soát “khối” ghế cần thiết để tạo nên một liên minh đa
số cầm quyền. Ví dụ, Đảng Dân chủ Tự do của Đức đã có thể tham gia vào quá
trình thành lập tất cả các chính phủ sau Đệ nhị Thế chiến. Đôi khi chính kiểu
liên minh như vậy lại là một nghịch lý chính trị: Ở Hy Lạp gần đây, đảng cánh hữu
phải thành lập một liên minh giả danh với những người cộng sản để giữ chủ nghĩa
xã hội đứng ngoài hoạt động chính phủ. Biên niên sử chính trị của các nước Bắc
Âu cũng cho thấy nhiều trường hợp một bên duy nhất đạt được số phiếu đáng kể
trong một cuộc bầu cử lại không thể tìm được đối tác để liên minh và cuối cùng
vẫn là phe đối lập.
Đáng ngại hơn nữa là hệ thống đầu phiếu PR luôn dành
cho lực lượng cực đoan cơ hội tham gia vào quá trình thành lập chính phủ. Đến
lượt phe thứ ba đó lại có thể loại bỏ các đối tác từng liên minh với mình bằng
một cuộc đảo chính nội bộ, như phe phát xít của Mussolini đã làm ở Ý vào năm
1920. Nếu không có hệ thống PR, phe Cộng sản và phát xít Đức sẽ không bao giờ có
khả năng làm mưa làm gió trên chính trường Đức như những gì đã xảy ra vào năm
1930.
Một cuộc bầu cử không phải là một cuộc thăm dò
nhằm tìm ra tư tưởng đại diện xác đáng nhất có thể nói thay cho tất cả các quan
điểm hoặc quyền lợi khác nhau trong một xã hội nhất định. Nếu bầu cử là như vậy
thì chúng ta sẽ không bao giờ truy ra được giới hạn cố định của quá trình phân
chia xã hội, và hệ thống dân chủ nhất mà chúng ta có được là nơi mà mỗi thành
viên sẽ đại diện cho một mảnh lợi ích được xác lập một cách cực đoan hoặc dị biệt
về đặc trưng ý thức hệ. Một nền chính trị như vậy chỉ đơn giản tạo nên một bức
biếm họa vô lý của nhà nước dân chủ.
Về căn bản, một hệ thống bầu cử sẽ cung cấp cho
công dân quyền quyết định ai là người lãnh đạo và dựa trên chính sách gì. Mục
đích của hệ thống này là tạo ra một chính phủ có hiệu lực, được hỗ trợ bởi phần
lớn công dân. Một cuộc bầu cử tựa trên hệ thống đầu phiếu đa số sẽ buộc các phe
phái phải liên kết với nhau trước khi người dân bỏ phiếu. Họ phải thống nhất được
nhiều các lợi ích khác nhau và càng nhiều ý kiến cử tri càng tốt, sau đấy xây dựng
cho các đại cử tri một chương trình thống nhất để vận hành, và chứng minh được khả
năng tập hợp đa số. Vậy nên, hệ thống đầu phiếu đa số tương đối luôn có xu hướng
trung tính vì hầu hết các lá phiếu sẽ đến từ những cử tri còn do dự ở trung
tâm.
Còn hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ lại đặt
trách nhiệm lựa chọn cả về nhân sự và chính sách của chính phủ mới vào tay các
lãnh đạo đảng, tách quyền cân nhắc khỏi công chúng và dời đến tận sau quá trình
bỏ phiếu. Như vậy, những gì phân biệt hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ với hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối vốn không phụ thuộc nhiều vào sự “đồng thuận” mà
tựa vào sự khác biệt trong phương pháp kiến tạo thỏa hiệp chính trị. Phương
pháp của hệ thống bầu cử đa số tương đối chắc chắn dân chủ hơn và hiệu quả hơn,
bởi vì các quyết định được thực hiện bởi chính các công dân. Lựa chọn ở đây là
rất rõ ràng, và hợp đồng ở đây thì có hạn định.
Nhận diện
lại mô hình Westminster
Một khi đã có đa số đồng nhất tồn tại trong quốc
hội, phải nói thẳng là chúng ta không có nhu cầu tiến hành bầu cử trực tiếp để chọn
ra người lãnh đạo riêng biệt. Chính người đứng đầu của lực lượng đa số đồng nhất
ấy trong quốc hội có thể thực hiện công việc của nhà lãnh đạo, và điều này giúp
chúng ta tránh được nguy cơ xung đột giữa hai lực lượng dân chủ hợp hiến trong
một nền chính trị lưỡng đảng. Lực lượng nắm đa số trong quốc hội cũng tạo ra những
người bộ trưởng có thẩm quyền vốn đã giữ liên lạc với cơ quan lập pháp. Nhà
lãnh đạo có quyền chủ động trong hoạt động lập pháp; còn vai trò chính của các
nhà lập pháp là cải thiện dự luật thông qua việc sửa đổi, và không cản trở các
chính sách đã nhận được sự ủng hộ của giới cử tri.
Ý này đã dẫn chúng tôi đến chỗ nhận diện lại mô
hình Westminster, một cấu trúc đã hoạt động suôn sẻ trong chính trường nước Anh
suốt 300 năm qua, trong khi nước Pháp đã phải thay đổi chế độ 20 lần trong hai
thế kỷ và vẫn đang phải thử nghiệm những hình thái thể chế khả dĩ với sự kết hợp
của các hệ thống bầu cử với chế độ nghị viện và chế độ tổng thống. Thể chế ưu
việt nhất của nước Pháp xuất hiện vào năm 1958, khi quốc hội suy tàn bởi hệ quả
của hệ thống PR trong nền Đệ tứ Cộng Hòa đã phải nhường chỗ cho nền Đệ ngũ Cộng
hòa với chế độ tổng thống tựa trên hệ thống đầu phiếu đa số, bởi công lao của Tổng
thống Charles de Gaulle. Nhưng xung đột nghiêm trọng về thực quyền vẫn xuất hiện
giữa tổng thống và thủ tướng trong thời kỳ “chung sống” từ năm 1986 đến 1988,
khi lần đầu tiên trong lịch sử của nền Đệ ngũ Cộng hòa, một tổng thống của một
đảng (ông François Mitterand của đảng Xã hội) đã hợp tác với một thủ tướng từ đảng
khác (ông Jacques Chirac của đảng Gaullist). Một kịch bản như vậy hoàn toàn có
thể sớm lặp lại, tạo ra áp lực cho động thái hướng tới hoàn chỉnh mô hình chế độ
nghị viện tựa trên hệ thống đầu phiếu đa số.
Giờ đây, chúng ta đã có bằng chứng tuyệt hảo cho
thấy rằng trong số bốn dạng cấu trúc chính trị khả dĩ, kết hợp từ hai mô hình tổ
chức (chế độ cộng hòa tổng thống hay cộng hòa đại nghị) và hai hệ thống bầu cử
(đại diện tỷ lệ hoặc đa số tương đối), thứ tự cấp bậc xét theo tiêu chuẩn của
tính hiệu lực và tính dân chủ là như sau: đứng đầu là mô hình Westminster, sau
đấy là chế độ tổng thống kết hợp đầu phiếu đa số tương đối, sau nữa là chế độ
nghị viện kết hợp đầu phiếu đại diện tỷ lệ, và sau cùng là chế độ tổng thống kết
hợp đầu phiếu đại diện tỷ lệ. Trong số các hệ thống PR, cấu trúc tồi tệ nhất là
hình thái thuần PR (như nước Ý, Israel), và ít tồi tệ nhất là hệ thống PR kết hợp
chủ trương số đông quyết định hiệu lực chính sách (như nước Đức, Hy Lạp).
Khi một thể chế đã dính vào PR, việc thoát ra là
gần như bất khả, bởi vì nỗ lực như vậy đòi hỏi các phe phái độc lập phải hợp
tác để giải quyết những mâu thuẫn riêng. Liên minh của các đảng bị đe dọa sẽ hầu
như luôn đủ mạnh để ngăn chặn một tiến trình cải cách bầu cử, nghĩa là phải chờ
đợi một cuộc khủng hoảng lớn ở tầm quốc gia. Còn sự thay đổi từ chế độ tổng thống
đến chế độ đại nghị là khá dễ dàng, thông qua chế độ bán tổng thống. Mới đây, Bồ
Đào Nha đã có những động thái này, và Phần Lan đã thực hiện được tiến trình
tương tự, có thể sớm được xác nhận bởi thay đổi trong hiến pháp (một kịch bản
không nhất thiết phải xảy ra là các bên có thể đồng ý không đề cử nhà lãnh đạo
của họ làm ứng cử viên tổng thống).
Điều này giúp giải thích một vấn đề thể chế, như
Lijphart thừa nhận, có thể được quan sát ở các nước châu Mỹ Latinh. Các đơn vị
bầu cử ở quốc hội có xu hướng củng cố quyền lực của tổng thống. Cuộc chạy đua
quyền lực sau đấy sẽ tập trung vào chiếc ghế tổng thống đến một mức độ có thể
thúc đẩy đảo chính quân sự. Một giải pháp để tránh nguy cơ như vậy là việc
thành lập một đảng của tổng thống và cố thủ trong cả bộ máy nhà nước và nhiều
lĩnh vực của xã hội. Trường hợp điển hình là Paraguay, nơi Alfredo Stroessner đã
làm Tổng thống trong suốt 35 năm với điểm tựa là quyền lực của Đảng Colorado. Ở
đây, giải pháp nghiêm cấm tổng thống tái tranh cử chỉ đơn giản dẫn đến việc quyền
lực được chuyển vào tay đảng cầm quyền, một bài học người Mexico đã trải qua dưới
giai đoạn cầm quyền lâu dài của đảng PRI.
Để xây
dựng một nền dân chủ
Mặc dù hệ thống bầu cử là một yếu tố trọng điểm
quyết định hình thái một thể chế chính trị – tuy thường bị bỏ qua trong hầu hết
các hiến pháp – các nhà nước dân chủ mới sẽ phạm sai lầm nếu cho rằng nền dân
chủ chỉ cần đảm bảo lựa chọn chính xác hệ thống bầu cử để hoạt động hiệu quả,
hoặc dân chủ có thể định nghĩa đơn giản là một hệ thống chính trị nơi người dân
bầu cử tự do để chọn ra nhà lãnh đạo (dù đấy chắc chắn luôn là điều kiện tối
thiểu). Điển hình là trường hợp Boris Yeltsin, người dân đã chọn ông làm tổng
thống của nước Cộng hòa Nga một cách tự do, nhưng nhà nước RSFSR vẫn không phải
là một nhà nước dân chủ.
Để trở thành nhà nước dân chủ, một chế độ chính
trị phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản. Bởi vì chủ quyền quốc gia tồn tại cùng với
công dân, tập thể duy nhất xứng đáng ủy thác quyền lực một cách chính danh để
giải quyết các vấn đề chung, một nền dân chủ trước hết phải sự tôn trọng sự
khác biệt giữa lĩnh vực công và tư[1]. Tiến trình chuyển đổi
sang nền dân chủ ở hầu hết các nước Đông Âu phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tách
rời nhà nước khỏi môi trường kinh tế và xã hội. Thách thức là ở việc khôi phục
lại những dòng chảy của sáng kiến cá nhân trên vùng đất này, vốn đã bị tàn
phá trong nhiều năm bởi đời sống quan liêu ngột ngạt và thái độ thiếu trách nhiệm,
chứ không phải ở việc phê chuẩn hiến pháp mới. Mặt khác, các nước như Hàn Quốc,
Đài Loan, hay Singapore, tuy đều trải qua chế độ độc tài nhưng chính nền độc
tài ấy thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tôn trọng đời sống cá nhân, nên khi đến
thời điểm thích hợp có thể dễ dàng chuyển đổi thành nhà nước dân chủ, thông qua
các cuộc bầu cử tự do và công bằng.
Nguyên tắc vĩ đại thứ hai cần được tuân theo
trong tiến trình xây dựng nền dân chủ là thiết lập cơ chế tản quyền bằng cách
chia quyền kiểm soát trong mọi lĩnh vực công giữa các cấp và các trung tâm quyền
lực khác nhau. Trọng điểm ở đây là các quyết định cần được thực hiện ở mức độ gần
gũi nhất với công dân. Thụy Sĩ là một minh chứng tuyệt vời cho quá trình thực
hành nguyên tắc này. Quá trình tản quyền cũng có thể được thực thi dựa trên thẩm
quyền ở từng cấp, nghĩa là quyền ra quyết định gắn liền với những người chịu
trách nhiệm trong vấn đề. Cần lưu ý, việc thiết lập các chi nhánh lập pháp và
hành pháp đối đầu trực tiếp với nhau, dù ở cấp địa phương hay cấp quốc gia, dễ
dẫn đến tình trạng quản lý kém hiệu quả chứ không phải trạng thái cân bằng
chính trị. Khi một quốc gia sở hữu dân số đến từ các nền văn hóa rất khác nhau,
mỗi cộng đồng hành động theo ý chí riêng của họ, nhà nước liên bang (thường cần
đến một cấp văn phòng lập pháp thứ hai) là giải pháp tốt nhất về thể chế. Một bản
hiến pháp chuẩn mực sẽ tìm cách để thiết lập các điều kiện tiên quyết của nền
dân chủ, cùng với một nền tư pháp độc lập để đảm bảo các quy định của pháp luật.
Tình trạng chia rẽ dân tộc cho thấy những thách
thức đặc thù ở châu Phi. Bất chấp sự tồn tại của tinh thần dân chủ ở nhiều vùng
của lục địa, các cuộc bầu cử quốc gia có xu hướng biến thành các cuộc cạnh
tranh sắc tộc ở các cơ quan lập pháp và công sở. Cách tốt nhất để chống lại
khuynh hướng này là bắt buộc thành viên của mỗi cộng đồng cạnh tranh với nhau
trên bình diện chính trị và tư tưởng (xuyên sắc tộc) trong đơn vị bầu cử một
thành viên. Con đường tồi tệ nhất là thông qua hệ thống PR, với khuynh hướng tiếp
tục duy trì tình trạng mâu thuẫn dân tộc ngay trong cơ quan lập pháp.
Trong vấn đề này, một trường hợp độc đáo như Nam
Phi cho thấy những giải pháp rất đáng được xem xét. Ở đây, “bộ lạc da trắng” đã
thiết lập một nền tảng chính trị mà về căn bản tôn trọng cả hai nguyên tắc thiết
yếu của nền dân chủ. Khi đất nước này thay đổi để hướng về một dân chủ đầy đủ
hơn, nền tảng ấy vẫn còn hiện diện dẫu cho các thế hệ công dân sau này của Nam
Phi có tiếp tục chia rẽ dựa trên vấn đề ý thức hệ, vấn đề dân tộc hay không. Tương
lai của Nam Phi sẽ rất ảm đạm nếu quốc gia này không thể xây dựng các phe phái đa
sắc tộc từ lớn đến trung bình. Ở đây, không cần phải hoài nghi rằng liệu một hệ
thống bầu cử đa số tương đối có thể tạo ra các điều kiện phát triển tốt nhất
cho các phe phái như vậy hay không.
Về phần Lijphart, bài viết của ông ít ra cũng đã
chứng minh được rằng các nhà khoa học chính trị vẫn còn cả một hành trình dài
phải vượt qua, kể cả chỉ để đạt được một sự đồng thuận, một mục tiêu thiết thực
hơn nhiều so với khám phá chân lý, nếu chân lý cuối cùng có tồn tại trong vấn đề
căn bản này.
[1] Nếu bạn cần một phân tích thấu đáo về
khái niệm “dân chủ”, xem bài viết “Dân chủ: Một nghiên cứu khảo sát”
(“Democracy: An Analytical Survey”) của Jean Baechler. (Chú thích của tác giả)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét