Chương
8: HỆ THỐNG ĐẦU PHIẾU ĐẠI DIỆN TỈ LỆ VÀ NGHỆ THUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Quentin L. Quade
Quentin L. Quade (mất năm 1999) là giáo sư về
khoa học chính trị tại Đại học Marquette ở Milwaukee, Wisconsin, nơi ông cũng từng
là chủ nhiệm của trường đại học (từ 1968 đến 1972) và phó chủ tịch (từ năm 1974
đến năm 1990). Tác phẩm của ông bao gồm hơn 60 bài tiểu luận đã đăng trên các tạp
chí như Phê bình Chính trị Review of Politics, Tự do trong Kết quả (Freedom
at Issue), Những điều Căn bản (First Things), Tư tưởng (Thought), và Những vấn đề Nghị viện (Parliamentary Affairs).
Bài viết này xuất hiện lần đầu trong số ra mùa
hè năm 1991 của Tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy).
Trong bài viết “Lựa chọn Hiến pháp cho nền dân
chủ mới”, Arend Lijphart đã mô tả và đánh giá một số lựa chọn thay thế sẵn có
cho các nền dân chủ mới. Lijphart biết rằng những lựa chọn tạo nên hệ thống bầu
cử có vai trò đặc biệt quan trọng, vì vấn đề này là nền tảng để tạo nên một bức
tranh với nhiều hoặc ít sự cạnh tranh, và kết quả là một chính phủ liên minh
hay độc đảng. Ông cũng biết rằng một khi lựa chọn đã được xác lập, người ta sẽ rất
khó thay đổi hệ thống bầu cử. Lijphart ủng hộ hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ
(PR)[1], hoan nghênh sự trỗi dậy của
nhiều ý kiến đối lập, và kết quả là sự kết tập của những liên minh. Tôi đã công
khai bảo vệ quan điểm ngược lại. Tôi kêu gọi đa số bầu cử theo hình thức đơn vị
bầu cử một thành viên (single–member district), và hy vọng giải pháp này sẽ khuyến
khích việc hình thành một nền chính trị lưỡng đảng, và kết quả của mỗi mùa bầu
cử là một đảng cầm quyền[2].
Làm thế nào mà hai nhà dân chủ với khởi điểm
tương tự nhau như Lijphart và tôi lại có thể đưa ra giải pháp hoàn toàn tương
phản như vậy cho trường hợp của các nền dân chủ mới nổi? Trong lĩnh vực bất động
sản, làm vậy là để kiểm tra các cơ sở. Ngay cả một quá trình truy vấn ngắn gọn
và có chọn lọc, như chính bài viết này, cũng có thể làm rõ lý do tại sao chúng
tôi đưa ra khuyến nghị rất khác nhau, và cả lý do tại sao tôi nghĩ rằng điểm tựa
cho kết luận Lijphart không những đáng nghi mà còn không tưởng.
Những người ủng hộ hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ
lệ thường mô tả lựa chọn này như một giải pháp “công bằng” và “đích đáng” hơn.
Bài viết của Lijphart khẳng định rằng hình thức PR sẽ tạo nên sự “đồng thuận”
chính trị, thúc đẩy con đường “hòa giải và thỏa hiệp”, cũng như kết quả sẽ mang
tính “đại diện” hơn so với hệ thống đầu phiếu đa số tương đối (plurality voting)[3]. Trong thực tế, mỗi mỹ từ
trong số những lời tán thưởng trên dành cho PR đều tạo ra một truy vấn và cần đến
một lập luận triết học hiếm thấy để xác lập ý nghĩa chuẩn cho khái niệm “công bằng”,
“đích đáng”, “đại diện”, và tương tự. Nhưng không có lập luận nào vững chắc như vậy
được trình bày hoặc thậm chí tóm tắt trong bài viết Lijphart. Điều duy nhất chắc
chắn về PR là nó thúc đẩy xu hướng tái tạo các bộ phận hợp thành xã hội và tái
định vị chúng trong cơ quan lập pháp. Đó là tất cả mục đích, logic và kết quả của
giải pháp PR[4].
Cho dù một hệ thống khuyến khích sự trỗi dậy của
các đảng phái đạt được bất cứ phẩm chất tốt đẹp nào trong những mỹ từ của những
người ủng hộ nó – như công bằng hơn, thích đáng hơn, đại diện hơn – tất thảy đều
phụ thuộc vào một lý thuyết về nghệ thuật quản lý nhà nước và hình thức dân chủ.
Tựu trung, mục đích của nhà nước là gì? Liệu việc xây dựng nền dân chủ có loại
bỏ hoặc thậm chí giảm bớt những yếu tính truyền thống làm nên nhà nước? Đặc biệt,
liệu nghệ thuật quản lý nhà nước dân chủ có phải đảm bảo thứ trách nhiệm tinh
hoa của việc thống nhất các bộ phận hợp thành xã hội, thống nhất và bảo vệ người
dân của mình, hoặc xác định và theo đuổi các lợi ích chung – nghĩa là những giá
trị mà không có bộ phận riêng biệt nào của xã hội sẽ nhận chân như những giá trị
đặc thù, mà lại là thứ để tất cả những bộ phận đặc thù dựa vào đấy?[5] Hay nền chính trị dân chủ
tồn tại cũng vì những nhiệm vụ đã làm nên ý nghĩa tồn tại của mọi quốc gia khác
trong lịch sử, nhưng giải đáp những truy vấn này theo một cách mới, một cách có
trách nhiệm và thỏa đáng hơn? Nếu nền chính trị này làm được như vậy, thì thử thách
trên hết của sự công bằng, công lý, và tính đại diện mà nền chính trị dân chủ
phải vượt qua sẽ là chặng thử thách tuyệt vời cho hoạt động của nhà nước. Chặng
thử thách thứ hai cũng không kém quan trọng là thử thách về trách nhiệm giải
trình. Nhưng với Lijphart và những người ủng hộ lý thuyết PR, truy vấn đầu tiên
dường như lại trở thành: cơ chế phân chia tự nhiên của xã hội tái cấu trúc và
tái định vị hệ thống cơ quan lập pháp như thế nào? Ví dụ, chính ở nơi ông ấy đồng
nhất số lượng phụ nữ trong cơ quan lập pháp với yếu tố đại diện cho lợi ích của
người phụ nữ, Lijphart đã sử dụng thuật
ngữ “tính đại diện” như một ẩn ý về chu trình tái tạo. Trong những ngụ ý không
mang tính phê phán của ông về “lý thuyết hình ảnh” của yếu tố đại diện mang
tính lập pháp, Lijphart đã viết như thể Edmund Burke chưa bao giờ tồn tại.
Nếu ai đó muốn chứng minh rằng xu hướng tái tạo
quá trình phân chia và thúc đẩy các đảng phái trỗi dậy của PR thực sự là một điều
tốt, người đó phải đề ra được một lập luận bền vững. Lý thuyết ấy phải giải
thích được bằng cách nào một hệ thống chính trị lại trở nên “công bằng” hơn nếu
nó không chống lại được lực ly tâm hướng về lợi ích nhóm, làm thế nào giải pháp
này có thể thúc đẩy phúc lợi công nếu nó chỉ “đại diện” cho những phân mảnh và những
góc rời rạc của xã hội, và làm thế nào một chính phủ được hợp thành từ những mảnh
vụn sau một quá trình bầu cử mờ ám hợp thời vận hành bởi những cuộc thương lượng
ngầm có thể được xem là có trách nhiệm và thỏa đáng. Chỉ khi lý giải được tất cả
những truy vấn trên thì những người ủng hộ giải pháp PR mới có thể chấm dứt được
những chuỗi hoài nghi.
Những
trường hợp lý tưởng và những suy đoán vô căn cứ
Tôi đã cho rằng những người ủng hộ PR nói chung,
và Lijphart nói riêng, có xu hướng đơn giản hóa chu trình của họ bằng cách đi tắt
từ xu hướng tái tạo các bộ phận của xã hội của hệ thống PR đến thứ tư tưởng mặc
định không được tra vấn cho rằng việc tái tạo như vậy là tích cực. Một lối tiếp
cận không mất sức, rất thường xuất hiện trong bài viết của Lijphart, là xây dựng
luận cứ cho mô hình PR bằng cách chọn những trường hợp đơn giản, không có chiều
sâu, trong những bối cảnh lý tưởng đến khác thường.
Có một quy luật hiển nhiên là những thách thức trong
cuộc thử nghiệm dành cho một hệ thống chính trị phải phải tương xứng với mức độ
nghiêm trọng của các điều kiện ngoài chính trị mà hệ thống này phải vượt qua.
Tôi chú ý đến các biến rõ ràng như thể trạng hoặc khiếm khuyết của nền kinh tế,
tình trạng căng thẳng hoặc hòa hợp sắc tộc, sự mâu thuẫn hoặc thống nhất tôn
giáo, những mối nguy về địa chính trị, an ninh. Ở đây, rõ ràng một cơ cấu chính
trị tương đối yếu vẫn có thể trụ vững trong một “khung trời lý tưởng” của những điều kiện ngoài chính trị, trong khi
một hệ thống mạnh hơn vẫn có thể suy tàn nếu phải trải qua những yếu tố ngoài
chính trị khắc nghiệt đến bất thường. Như vậy, ai cũng có thể hiểu rằng nếu có
một nước X được tồn tại giữa những điều kiện lý tưởng nhất, sức mạnh của cơ cấu
chính trị của quốc gia này sẽ ít khi bị thách thức. Một môi trường lý tưởng như
vậy sẽ tạo ra đầy sai sót trong những tính toán cho thực tế; thậm chí kể cả khi
mô hình của thể chế ấy yếu đến mức rất dễ sụp đổ, thì sức chống chịu tự nhiên của
xã hội cũng sẽ giữ cho nhà nước ấy trụ vững.
Phần lớn những mâu thuẫn của tôi với Lijphart đến
từ việc ông ấy luôn kiểm tra hệ thống PR trong trường hợp quá dễ dãi. Hầu hết
các ví dụ cho sự “thành công” của hệ thống PR được rút ra từ các xã hội rất nhỏ.
Một số trường hợp lý tưởng như vậy, điển hình là các nước Bắc Âu, sở hữu xã hội
gần như đồng nhất, với mức độ phân ly chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo cực kỳ thấp.
Những xã hội này cũng chẳng trải qua bất kỳ cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng
trong những gian đoạn mà Lijphart chọn để quan sát. Hơn nữa, tất cả các ví dụ lý
tưởng trong nghiên cứu của ông đều được đứng dưới sự bảo trợ từ chiếc ô quân sự
của Hoa Kỳ, một điều kiện bên ngoài có tính tạm thời đã giúp họ tránh được hầu
hết áp lực cân bằng quyền lực. Nhiều nước còn là đối tượng hưởng lợi từ Kế hoạch
Marshall, chiến dịch viện trợ đã tạo nên một thời kỳ phục hồi kinh tế và phát
triển ở mức chưa từng có ở Tây Âu.
Tựu trung, hầu hết đối tượng trong danh sách ví
dụ của Lijphart đều được hưởng những điều kiện ngoài chính trị thuận lợi như vậy;
môi trường phòng thí nghiệm ấy khác một trời một vực những vực thẳm cay nghiệt
mà các nền dân chủ mới hiện giờ phải tìm cách đấu tranh. Danh sách của ông cũng
bỏ qua tất cả các trường hợp cho thấy rõ rằng PR có thể tạo nên ảnh hưởng
nghiêm trọng thế nào và dẫn đến cảnh suy tàn của nhà nước và sự sụp đổ của hệ
thống. Một nhà nước Ý chìm trong khủng hoảng và những bế tắc chính trị ở giai
đoạn trước khi Mussolini lên nắm quyền là một ví dụ rất thích đáng. Nền Đệ tứ Cộng
hòa của nước Pháp (giai đoạn 1945–1958), với cơn tê liệt lâu dài và cuối cùng
đã tự hủy diệt mình vì không thể giải quyết được các vấn đề thuộc địa và trong
nước, rõ ràng cũng là một minh chứng. Cuối cùng, nền Cộng hòa Weimar[6], nơi những liên minh chính
trị hoàn toàn mang tính địa phương và rất yếu kém, có thể là ví dụ tường minh
nhất trong tất cả các trường hợp cần nêu ra để tra vấn tính chính đáng của PR.
F. A. Hermens khẳng định dứt khoát ảnh hưởng trực tiếp của PR khiến cho các thể
chế chính trị còn không thể phát triển nổi sự bền vững ở mức trung bình, thậm
chí còn tạo cơ hội cho những phần tử cực hữu trong xã hội. Như Herman Finer từng
quan sát, phiên bản“công lý” của PR – thứ đã để cho những mảnh vụn qua khích
trong xã hội tồn tại trong những cơ quan lập pháp ở thượng tầng – đã giữ cho cả
chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản có cơ hội sống sót, và đến lượt chúng
đã loại trừ thẳng thay những nền cộng hòa non trẻ và yếu đuối như nền Cộng hòa
Weimar. “Hòa giải và thỏa hiệp” quả thực đã hiện diện nhưng không hiện diện.
Đối với tôi, thật khác thường khi một danh sách
các ví dụ về tác động của PR chỉ điểm danh những đối tượng thụ hưởng những điều
kiện rất thuận lợi bên ngoài chính trị. Càng khác thường hơn là danh sách này
không đề cập gì đến những trường hợp cho thấy ảnh hưởng tai hại nhất của PR.
Bên cạnh hành vi gán ghép tùy tiện khái niệm “tốt”
vào những căn tính của PR và sự lợi dụng những ví dụ lý tưởng, nỗ lực của
Lijphart còn bế tắc ở điểm yếu thứ ba.
Nhằm khái quát hóa các biểu hiện, Lijphart đã giả
định rằng ông biết chắc những quy luật không hề được các bằng chứng chỉ ra. Ví
dụ, ông đã tưởng tượng rằng thành công tương ứng về kinh tế của nước Ý trong
vài thập kỷ qua, cảnh thịnh vượng của nước Đức trong cùng thời kỳ, và sự yếu
kém của nước Anh đều có thể được xem là hệ quả của hình thái chính trị trung
tâm trong thể chế của mỗi quốc gia. Nếu đó là sự thật, vậy thì người ta cũng có
thể suy ra rằng một nền chính trị với những phe phái phân tán và yếu đuối, những
liên minh không ổn định (như ở Ý) hóa ra lại sánh bằng hoặc thậm chí tốt hơn cả
những đảng phái hợp thành từ đám đông và kiến tạo nền chính trị đa nguyên một đảng
nắm quyền ( như ở Anh).
Mặc dù Lijphart khẳng định rằng “bằng chứng thực
nghiệm” cho thấy tất cả điều này, thực tế là những bằng chứng ấy chẳng hề cho
thấy quy luật như trong giả định của Lijphart. Thay vào đó, chính các bằng chứng
thực nghiệm nhắc nhở chúng ta về những biến số đa dạng và đôi khi bí ẩn mà ta chắc
chắn phải suy tính cẩn trọng khi xem xét bức tranh xã hội và kinh tế phức tạp
như vậy trong hiện thực. Như đã nói ở trên, tất cả chúng ta có thể chắc rằng hệ
thống bầu cử PR có xu hướng thúc đẩy sự trỗi dậy của các đảng phái, trong khi hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối (plurality voting system) sẽ khuyến khích thỏa
thuận giữa các bên. Chúng ta cũng có thể chắc chắn về hậu quả của một nền chính
trị liên minh là những áp lực dồn nén đến độ tiếp tục tạo ra sự phân rã, và chắc
chắn sẽ có nhiều thế lực hơn so với thể chế một đảng nắm quyền (điển hình là nước
Ý vào mùa xuân năm 1991, khi quốc gia này từ bỏ chính phủ hậu chiến thứ 49); cũng
như chắc chắn rằng để vận hành nền chính trị, hệ thống như vậy phải kiến tạo
các nhóm sau bầu cử đứng ngoài công chúng (không có thành viên nào của cử tri
Italia bình chọn cho chính phủ thứ 50). Logic từ những kinh nghiệm lịch sử, cùng
với các trường hợp như nền Cộng hòa Weimar của Đức và nền Đệ tứ Cộng hòa của
Pháp, đều cho thấy thể chế kiểu liên minh sẽ tạo nên những nền tảng rất yếu kém
cho quá trình vận hành nhà nước, so với thể chế một đảng nắm quyền. Một đám
đông được thống nhất như vậy rõ ràng luôn có thể tạo ra những bước tiến vững chắc,
ngay cả khi phải liên tục tranh luận và vận động chống lại một phe đối lập đang
tìm cách trở thành chính phủ tiếp theo.
Vậy thì điều gì làm nên vận may kinh tế của
Italia, sự thịnh vượng của Đức, những ngày mờ nhạt của nước Anh? Người ta có thể
quy kết điều kiện là mô hình thể chế mà các quốc gia lựa chọn chỉ bằng lối suy
luận ngụy biện sai nguyên nhân (post hoc, ergo propter hoc). Kiểu lập luận như
vậy chỉ đơn giản là sự khước từ mọi biến số bất thường khác mà bất cứ chuỗi phân
tích khách quan nào cũng đều phải chú ý. Tôi đã trình bày ở trên rằng sự can
thiệp từ bên ngoài bởi trách nhiệm với đồng minh đã vực dậy cả nước Ý và nước Đức
trong thời đại của Kế hoạch Marshall, cũng như mọi nước thuộc khối NATO, và tạo
nên những bước nhảy vọt về nền kinh tế ở các quốc gia này. Tôi cũng lưu ý rằng
những chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế vẫn có thể được thông qua bởi
các chính phủ yếu kém, trong khi những chính phủ mạnh không phải lúc nào cũng
có thể chắc chắn xây dựng những chính sách đúng đắn. Ví dụ, không phải là không
có cơ sở khi cho rằng sức mạnh kinh tế mà nước Đức đạt được trong giai đoạn Kế
hoạch Marshall được triển khai xuất phát một phần từ chính những bài học kinh tế
khủng khiếp mà người Đức trải qua trong nền chính trị bị tê liệt bởi mô hình PR
ở thời Cộng hòa Weimar. Chắc chắn nỗi sợ hãi sâu xa của người Đức trước cảnh lạm
phát bắt nguồn từ những kinh nghiệm lịch sử cay đắng của họ. Vậy nên, thật sai
lầm khi cho rằng chính sách tiền tệ thận trọng của Đức là hệ quả của mô hình thể
chế hiện đại có xu hướng nghiêng về hệ thống PR đã được tùy chỉnh của quốc gia
này, trong khi thiên hướng thận trọng như vậy rõ ràng là hệ quả của bài học
tiêu cực rút ra từ cảnh suy tàn của nước Đức trước khi Hitler lên nắm quyền, một
cảnh suy tàn tạo nên bởi chính hệ thống PR.
Tương tự như vậy, nỗ lực suy diễn cho rằng nền
kinh tế sa sút của nước Anh là hệ quả của hệ thống đầu phiếu đa số tương đối thật
không thuyết phục chút nào. Quả thực, nước Anh đã có màn trình diễn nhạt nhòa nếu
so với những cường quốc khác, nhưng đấy là cảnh sa sút hoàn toàn có thể hiểu được,
là kết quả của những quyết định kém cỏi bên cạnh hoàn cảnh khó khăn. Nhưng thực
chất, không có bất kỳ hệ thống chính trị nào luôn đảm bảo đưa ra quyết định đứng
đắn, và chúng ta cũng không thể đánh giá thấp tác động của những hoàn cảnh ngặt
nghèo. Sau cùng, nước Anh vẫn là một nước trực tiếp tham chiến đã chịu những tổn
thất đáng kể sau Đệ nhị Thế chiến, và phải tìm cách trỗi dậy từ cảnh suy kiệt ấy.
Quốc gia này chưa bao giờ nhận được sự hỗ trợ hùng hậu như các nước Đồng minh
khác trong Kế hoạch Marshall. Nước Anh còn phải chịu đựng sự tan rã nhanh chóng
của một nền đế chế từng ngự trị các đại dương, một cấu trúc khổng lồ kết nối chặt
chẽ với cơ cấu của nền kinh tế. Quá trình giải phóng thuộc địa đã buộc một cường
quốc không chỉ phải tìm cách thay đổi nền kinh tế, mà còn phải trải qua những
cơn địa chấn để tái cấu trúc tâm lý xã hội. Đứng trên tất cả những thách thức
này là truy vấn gai góc về sự tồn tại của Ireland trong khối Vương quốc Liên hiệp.
Tựu trung, trọng tâm của vấn đề là: trong khi màn
trình diễn kinh tế của nước Anh thời hậu chiến khó có thể được xem là một thắng
lợi của mô hình Westminster, thì chúng ta cũng không thể đơn giản quy kết cảnh
sa sút này là một trong những thất bại của mô hình đó. Một chuỗi những ảnh hưởng
lên các quốc gia đã phát triển thịnh vượng hơn, khả năng một nền kinh tế hoạt động
độc lập trước những ảnh hưởng chính trị hằng ngày, và một loạt biến động nước
Anh đã phải trải qua cho thấy rõ rằng việc khẳng định hệ thống chính trị của nước
Anh là nguyên nhân chính dẫn đến của nền kinh tế sa sút của quốc gia này thật
không thỏa đáng chút nào. Trí tuệ đi đúng đường thì sẽ không suy đoán khi có thể
xác định chắc chắn. Một trong số rất nhiều hệ quả của quy luật bất thành văn
trên là như sau: Đừng bao giờ ngừng suy đoán khi bạn không thể xác định, nhưng
không bao giờ tưởng tượng bạn đã chắc chắn trong khi thực tế bạn chỉ suy đoán. Nhóm
quy luật nhân quả mà Lijphart khẳng định rằng là kết quả hiển nhiên của những “bằng
chứng thực nghiệm” do ông ta chọn lựa, sau khi được soi xét kỹ, đều hiện nguyên
hình là những phỏng đoán.
Những
phẩm chất của hệ thống đa nguyên
Niềm đam mê của Lijphart dành cho hệ thống PR dựa
trên giả định của ông rằng chúng ta có thể được được hưởng lợi từ tất cả những phẩm
chất bị gán cho hệ thống này (tính đại diện từ sự tái tạo, mọi giọng đều được
nghe, sự đồng thuận, thỏa hiệp,…), cũng như tránh khỏi mọi tác động tiêu cực đi
liền với hệ thống này (khả năng làm bùng phát chủ nghĩa cực đoan, khả năng làm chính
phủ suy yếu và bất ổn, chủ nghĩa không tưởng trong chính trị, khả năng giải
trình không minh bạch trước cử tri, và mọi hệ quả tương tự). Nhưng cả điểm nhìn
thông diễn và lịch sử đều khẳng định mạnh mẽ rằng bạn không thể tùy chỉnh diễn
trình như vậy được. Ngay trong trường hợp một môi trường lý tưởng khiến hệ thống
PR có thể được chấp nhận được trong một giai đoạn nhất định, viễn cảnh tương
lai của hàng loạt quốc gia và dân tộc sẽ không bao giờ chắc chắn có thể trụ vững
lâu dài trong hoàn cảnh hạnh phúc như vậy. Những mâu thuẫn tạo nên lực ly tâm tự
nhiên và lực ly tâm trong cuộc sống con người đã đưa nhà nước vào dòng chảy lịch
sử luôn cần đến các hệ thống dựa trên đám đông để đảm bảo khả năng hành động.
Và nếu quyền lực trước đám đông đã trở nên hợp cách, người dân cần được biết ai
đang làm gì và mỗi phía có thể đem lại cho họ những gì, và người dân sẽ phán
xét một cách nghiêm túc giữa những vấn đề này.
Hệ thống đầu phiếu đa số sẽ thúc đẩy các đảng
phái trong cuộc cạnh tranh thích nghi với thái độ hợp thành từ đám đông. Các lực
lượng này sẽ nghiêng theo thế trung tính tựa trên quyền lợi của đám đông, để
tìm kiếm sự hòa giải, để làm tròn những góc cạnh, và họ phải làm vậy trước cuộc
bầu cử, ngay trước mắt công chúng, những nhiệm vụ rành rành mà Lijphart lại
hoan nghênh hệ thống PR vì dời những nhiệm vụ này đến sau cuộc bầu cử. Những
đám đông hợp thành từ kết quả của cuộc bầu cử đầu phiếu đa số thường có xu hướng
đủ vững chắc để duy trì một chính phủ có hiệu lực mà không trở nên thiếu phản hồi
và cứng nhắc, bởi vì căn tính của đám đông là hay thay đổi, do đó luôn trung
hòa với ngoại vi, luôn cần tái cấu trúc.
Hơn nữa, những chính sách được lựa chọn cẩn thận,
hàm chứa sự tôn trọng những yếu tố ngoại vi, có thể thúc đẩy nền chính trị địa
phương thường mang tính sôi động và xã hội dân sự, do đó khuyến khích chính sự
đa dạng thường hiện diện trong tinh thần của hệ thống PR, nhưng bằng con đường
của hệ thống đầu phiếu đa số, chúng ta không phải đối mặt với những tác hại từ
sự yếu kém của chính phủ và sự thiếu minh bạch. Ngược lại với Lijphart, tôi vẫn
cho rằng chúng ta có thể xây dựng hệ thống với những phẩm chất thật của PR (nền
tảng của sự khác biệt, thế giới trăm hoa khoe sắc,..) nhưng vẫn tránh được mọi
hậu quả tai hại của con đường này, dưới cái bóng cả của hệ thống đầu phiếu đa số.
Vậy thì tại sao chúng ta phải tìm đến nguy cơ vì cố tìm cách xây dựng hệ thống
PR? Những nền dân chủ đang lên, đang phải đối mặt với những hoàn cảnh ngoài
chính trị rất khó khăn, cần cơ cấu chính trị tốt nhất mà họ có thể đạt được. Giải
pháp tốt nhất này sẽ kết hợp động lực lớn để hành động với trách nhiệm rõ ràng
và do đó cung cấp năng lượng cho cam kết.
Hợp thể lý tưởng như vậy hoàn toàn có thể xảy ra trong các hệ thống bầu cử đầu
phiếu đa số vận hành trong cấu trúc của quốc hội. Tất nhiên, ngay cả những thỏa
ước tốt nhất không thể đảm bảo thành công trong thế giới không hoàn hảo này, những
hệ thống yếu kém sẽ làm cho những chính sách khôn ngoan nhất cũng thành bất khả
thi. Nhưng hệ thống tốt nhất sẽ đảm bảo rằng cả nguy cơ tê liệt chính phủ cũng
không thành vấn đề hệ trọng của quốc gia, và chính người đi bỏ phiếu sẽ thực sự
làm nên hoặc hạ bệ chính phủ của họ.
[1] Đại diện tỷ lệ, còn được gọi là đại diện
đầy đủ, là một dạng của hệ thống đầu phiếu nhằm mục đích cân bằng giữa phần
trăm phiếu bầu mà các nhóm ứng viên giành được trong các cuộc bầu cử và số ghế
họ nhận được (thường thấy ở bộ phận lập pháp). Tự thân đại diện tỷ lệ là một
nguyên tắc dân chủ hơn là một hệ thống bầu cử. Nó thường tương phản với hệ thống
đầu phiếu đa số tương đối (plurality voting system), nơi sự phân chia cử tri
thành nhiều khu vực bầu cử dẫn đến việc phân bổ ghế không theo tỷ lệ, ví dụ như
nguyên tắc người về đích đầu tiên.
Có một số hình thức đại diện tỷ lệ, như đại diện tỷ lệ theo
danh sách đảng (party-list proportional representation), nơi các nhóm ứng viên
tương ứng ứng trực tiếp với các danh sách ứng viên từ các đảng chính trị. Một
loại khác là lá phiếu khả nhượng đơn (single transferable vote), nơi không phụ
thuộc vào sự tồn tại của các đảng. (Chú thích của người dịch)
[2] So sánh với bài viết “Democracies-to-Be: Getting It Right the
First Time” của tôi trên tạp
chí Tự do (Freedom) số 113 (Chú thích của tác giả)
[3] Đầu phiếu đa số tương đối hay còn gọi là
đầu phiếu đa số đơn (plurality voting system/ first past the post/
winner-takes-all) là một hình thức đầu phiếu một người thắng thường được dùng để
bầu các vị trí điều hành hay bầu thành viên trong hội đồng lập pháp từ các khu
vực bầu cử. (Chú thích của người dịch)
[4] Bởi vì những bộ phận hợp thành xã hội có
tiềm năng phân chia vô hạn, một trong số đó đôi khi nhận ra những người ủng hộ
PR như Lijphart chỉ ra sự khác biệt giữa hình thức “cực đoan” và “trung tính” của
PR. Về sau, khuynh hướng tự nhiên của PR sẽ lệch hướng bởi những phương tiện
đem lại cho chính phủ một cơ hội tốt hơn để xây dựng và vận hành – đấy là một sự
phủ nhận, nhưng không được thừa nhận, chính logic của PR. (Chú thích của tác giả)
[5] Xét cho cùng, đấy vẫn là truy vấn muôn
thuở: bảo vệ đám đông hay bảo vệ thiểu số (Lời người dịch)
[6] Giai đoạn nước Đức bế tắc trong những cuộc
khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội, trước khi Hitler lên nắm quyền và lập
ra Đệ tam Đế chế. (Chú thích của người dịch)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét