Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

[Dịch xong] _ Chương 17: Cải cách chính trị ở Nhật Bản và Đài Loan


Jih – wen Lin là nghiên cứu sư tại học viện khoa học chính trị tại Academia Sinica, giáo sư tại Đại học Quốc gia Chengchi và Đạo học quốc gia Sun Yat- sen ở Đài Loan. Những bài báo của ông đã xuất hiện trong cuốn Electoral Studies, China Quarterly, Journal of East Asian Studies, và Issue and Studies. Bài viết này lần đầu được xuất bản vào tháng 4 năm 2006, in trong cuốn Journal of Democracy.

Một trong những điểm tương đồng giữa chính trị Nhật Bản và Đài Loan đó là sử dụng phương pháp bầu cử lá phiếu duy nhất không chuyển nhượng SNTV để bầu cử đại diện cơ quan lập pháp. Bên cạnh đó, nhiều năm qua, cả 2 đất nước này đã trải qua những cải cách bầu cử quan trọng, điều đó dẫn đến việc hệ thống bầu cử đang chuyển sang phương pháp đại diện tỉ lệ hỗn hợp. Những biện pháp cải cách ở cả 2 đất nước này đã được thảo luận rất lâu trước khi được thực hiện (Nhật Bản năm 1994 và Đài Loan năm 2005). Điều này buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Liệu có điều gì ẩn đằng sau những thay đổi gần đây?

Nhật Bản và Đài Loan được coi như là những hình mẫu cho các nước mới phát triển. Nhật Bản cho dù bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh Thế giới thứ 2, nhưng kể từ những năm 1960 tốc độ phát triển kinh tế của Nhật ở mức cao nhất trên thế giới. Đến năm 1990, tốc độ phát triển mới có dấu hiệu chậm lại do hậu quả của thị trường chứng khoán bị sụp đổ. Đài Loan cũng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và vẫn phải chịu sự cô lập trong các quan hệ ngoại giao, nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc.  Rất nhiều nhà lý luận phát triển đã khái quát hóa quá trình phát triển của Nhật Bản và Đài Loan thành những tiên chỉ cho việc phát triển. Tuy nhiên, Nhật Bản và Đài Loan lại khác với những định kiến về các nước phát triển, bởi họ có một hệ thống bầu cử dân chủ cạnh tranh và phản biện tốt.

Bầu cử đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc xây dựng nhà nước hiện đại của Nhật Bản và Đài Loan. Cạnh tranh bầu cử tồn tại ngay cả trong thời kỳ hoàng kim của chế độ độc tài. Vậy làm thế nào mà chủ nghĩa tiến bộ có thể cùng tồn tại với cạnh tranh bầu cử ở cả 2 nước này? Nói cách khác, việc gì đã khiến cho các nhà hoạch định kinh tế không bị can thiệp bởi các chính trị gia? Câu trả lời sẽ rất hữu ích cho những đất nước đang cố gắng theo đuổi 2 mục tiêu: phát triển kinh tế và cải cách chính trị.

Điểm mấu chốt nằm ở cách tiến hành bầu cử như thế nào. Để đạt được lợi ích kinh tế, người lãnh đạo của nhà nước tiến bộ sẽ thường xuyên tìm cách định hình vai trò của các chính trị gia được chọn, để nhóm này ủng hộ các kế hoạch chứ không phải là để tranh cãi về kế hoạch. Cuối cùng, bầu cử tập trung chủ yếu vào lợi ích cá nhân mà ít quan tâm đến những vấn đề chính trị. Một liên minh cầm quyền ổn định cần phải chèo lái và tránh sự bất mãn của những người theo chủ nghĩa phát triển tự do để có thể điều hành kinh tế. Chế độ bầu cử SNTV đáp ứng được những nhu cầu này, đó là lí do vì sao trong nhiều thập niên, Nhật Bản và Đài Loan đều đặc biệt áp dụng hệ thống bầu cử này. Hệ thống này rất ít được áp dụng, ngày nay chỉ còn ở Jordan, Afghanistan, Vanuatu và đảo Pitcairn sử dụng để chọn ra những cơ quan lập pháp quốc gia. Tại Nhật Bản và Đài Loan, SNTV được sử dụng từ khi bắt đầu có cạnh tranh bầu cử đến cải cách bầu cử gần đây (năm 1994 và năm 2005), Nhật Bản và Đài Loan mới sử dụng hệ thống bầu cử hỗn hợp. Khi xét về kinh nghiệm quý báu của hệ thống Hàn Quốc, SNTV được coi như một định nghĩa về mô hình dân chủ ở Đông Á.

Dưới hệ thống bầu cử SNTV, mỗi cử tri có quyền bỏ 1 phiếu cho ứng viên tiêu biểu ở địa phương. Những cử tri không được phép đổi ứng viên khác sau khi bầu xong, và vị trí được quyết định bằng nguyên tắc đa số để tìm ra những ứng viên có số phiếu bầu cao nhất. Hệ thống này độc đáo ở chỗ, cơ hội cho những người chiến thắng sẽ giảm khi số lượng ứng viên được chọn từ các đơn vị địa phương tăng lên. Điều này khiến cho hệ thống được phân bố theo phần trăm, khi sự phân bổ ghế ở các đảng phù hợp chặt chẽ với tỷ lệ tương đối của các phiếu bầu. Tuy nhiên việc bầu cử là chọn ra đại biểu với tư cách cá nhân hơn là đảng phái. Ngược lại, trong hệ thống bầu cử theo tỷ lệ, bất cứ phiếu bầu cho bất cứ ứng viên nào trong Đảng đều là một điều tốt cho cả Đảng đó. Trong trường hợp lá phiếu bầu cho một ứng viên vượt ngưỡng quy định, số phiếu bầu đó sẽ được chuyển giao sang ứng viên khác trong Đảng. Theo cách này, số ghế đạt được sẽ dựa trên phiếu chung của Đảng đó. Khi áp dụng hệ thống bầu cử SNTV, lá phiếu mà một ứng viên dành được sẽ không thể chuyển nhượng và một người được chọn chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà họ nhận được. Bởi vì hạn chế chỉ được bầu một ứng viên, các cử tri thường có xu hướng bầu cho người nào mà phục vụ được lợi ích đặc biệt của họ.

Khi áp dụng hệ thống bầu cử SNTV sẽ có rất nhiều hậu quả đi kèm. Đầu tiên, hệ thống bầu cử SNTV thúc đẩy ứng viên được chọn kiến tạo mạng lưới khách hàng bảo trợ, và đó là cách tốt nhất để đảm bảo sự hỗ trợ từ các nhóm lợi ích cụ thể. Thứ 2, nó tạo ra bè phái và chia rẽ trong các đảng phái chính trị khi các ứng cử viên phải cạnh tranh với nhau qua các lá phiếu bầu của các bên tín hữu. Thứ 3, hệ thống Đảng có tổ chức có thể phối hợp với các cử tri, cũng như phân bổ phiếu bầu cho những người ủng hộ, nhằm mục đích tối đa hóa số lượng ứng viên được chọn ở mỗi địa phương. Thứ 4, nếu áp dụng hệ thống SNTV, những cử tri bị phụ thuộc vào sự bảo trợ hay kết nối đặc biệt nào khác thì cần nhận được sự hỗ trợ từ liên minh vững vàng để có thể hoàn thành nhiệm vụ phân bổ nguồn lực và phối hợp bổ nhiệm.

Những đặc điểm của hệ thống SNTV giải thích tại sao những nhà cầm quyền ở Nhật Bản và Đài Loan lại muốn sử dụng nó. Một liên minh cầm quyền mạnh có thể được thành lập với sự tham gia của những người cải tổ đất nước, những nhà hoạch định phát triển kinh tế, những đại diện được chọn, hay những người hợp pháp hóa các quá trình. Việc tài trợ cho một nền chính trị được tạo ra bởi hệ thống bầu cử SNTV đòi hỏi rất nhiều chi phí. Điều này đã trở thành gánh nặng khi nền kinh tế không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh nữa. Hơn thế, những người không thể kết nối với mạng lưới bảo trợ có thể đứng lên đòi hỏi cải cách, mà chính phủ không thể lúc nào cũng có thể bao che được. Ở Nhật Bản và Đài Loan, những bất bình xã hội như vậy luôn tồn tại sau mỗi cuộc bầu cử.

Điều thú vị là ở cả 2 nước, sáng kiến thay đổi bầu cử diễn ra trong phạm vi rộng lớn, được chi phối từ trong đảng. Vậy làm thế nào điều này lại có thể xảy ra, khi cấu trúc của đảng thống trị dựa phần lớn vào hệ thống SNTV? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải kiểm nghiệm những lựa chọn chiến lược mà một số chính trị gia điều hành đảng đã chọn lựa khi phải đối mặt với phản ứng từ xã hội. Khi hệ thống SNTV bắt đầu bị lên án, các chính trị gia tìm cách để đảm bảo sự sống chính trị của mình bằng việc kêu gọi cải cách. Thật vậy, các trường hợp của Nhật Bản và Đài Loan cho thấy sự thành công của cải cách bầu cử thường xoay quanh cuộc đấu tranh quyền lực giữa các bên đương nhiệm.

Sự lên án của công chúng về tình hình xã hội thường xuyên được coi là một nguồn lực thúc đẩy cải cách bầu cử. Ở Nhật Bản, các cuộc tranh luận về cải cách diễn ra mạnh mẽ khi một số vụ bê bối đã thay đổi nhận thức của người dân Nhật Bản về hệ thống cũ đã bị nhũng nhiễu. Ở Đài Loan, những phản biện nổi dậy bởi sự bất bình của công chúng với bộ máy lập pháp quốc gia không hiệu quả và hỗn loạn. Tuy nhiên, dù rằng sự bất bình của dân chúng là thành phần không thể thiếu của mỗi cuộc cải cách, nhưng đó cũng không phải là lời giảu thích đầy đủ thành công của cải cách ở Nhật năm 1990 và ở Đài Loan trong nửa thập niên trước. Một nhân tố quan trọng khác đó là niềm tin của một vài nhà lập pháp đương nhiệm rằng một hệ thống mới có thể nâng cao cơ hội tái cử của họ. Tuy nhiên cải cách có thể gây khó khăn cho những thành viên yếu kém của quốc hội để đành được tái cử. Chính vì vậy các nhà cải cách cũng gặp khó khăn trong việc tập hợp số đông yêu cầu thay đổi hệ thống bầu cử. Vậy làm thế nào mà họ có thể liên minh được với đa số thành viên trong quốc hội ở Nhật Bản và Đài Loan?

Như đã lập luận ở trên, việc duy trì hệ thống đảng thống trị đòi hỏi chi phí rất lớn, và việc suy thoái kinh tế có thể gây ra những phản đối chính phủ từ phía công chúng. Ở cả Nhật Bản và Đài Loan, sự bất mãn của công chúng đã tác động đến sức mạnh bầu cử của chính phủ, và cuối cùng đã tước đi quyền thống trị của Đảng. Khi đối mặt với thách thức này, các nhà cầm quyền được bầu vì hình ảnh cá nhân (chứ không phải do những kết nối đặc thù) đã bắt đầu suy tính những chiến lược quyết định sự tồn vong của hệ thống chính trị. Cả 2 nước đều đưa ra những giải pháp giống nhau: thúc đẩy thay thế hệ thống bầu cử SNTV bằng hình thức bầu cử Đầu phiếu đa số. Theo đó, người dành được nhiều phiếu nhất sẽ là người trúng cử, họ đứng lên lãnh đạo đảng dựa vào nền tảng chính trị chứ không phải dựa theo phe phái. Tuy nhiên làm thế nào mà những chính trị gia này có thể vận hành quá trình cải cách, cho dù họ chỉ là thiểu số?

Cải cách hệ thống bầu cử thành công ở các quốc gia đang sử dụng hệ thống bầu cử SNTV phải phụ thuộc vào 3 điều kiện. Đầu tiên, chính những nhà cải cách phải được hưởng lợi từ hệ thống bầu cử mới đặt ra. Với hệ thống bầu cử FPTP thay thế SNTV, các nhà chính trị thường dựa vào mức độ nổi tiếng của cá nhân để giành chiến thắng giúp thúc đẩy cải cách. Với chỉ một ứng viên được chọn từ một bên, việc các cử tri bỏ phiếu dưới hệ thống FPTP dễ ảnh hưởng đến hình ảnh của ứng viên và xác định đảng phái của họ, trong khi nếu dùng hệ thống bầu cử SNTV, họ được khuyến khích bầu cho những ai mang lại cho họ lợi ích đặc biệt.  Thứ 2, cải cách bầu cử sẽ khả thi hơn nếu như không đảng phái nào kiểm soát phần lớn quốc hội. Khi có một đảng kiểm soát phần lớn quốc hội, những thành viên yếu kém của đảng đó sẽ đứng lên chống lại cải cách. Ngoài ra cũng có một số ít đại biểu ở đảng thống lĩnh ủng hộ cải cách bầu cử cũng như duy trì vị trí thống lĩnh của đảng mình. Điều này cũng chỉ ra rằng khi sức ép từ xã hội quá lớn, một số thành viên của đảng cầm quyền sẽ quyết định thành lập nhóm cải cách, và khi đó Đảng này sẽ có nguy cơ bị chia rẽ.

Thứ 3, để mang lại một sự thay đổi từ hệ thống bầu cử SNTV, một số nhà lập pháp cần có một số ưu đãi để phê chuẩn các đề nghị cải cách. Những Đảng nhỏ (hoặc đơn lập) thấy nguy hiểm cho sự tồn tại của họ khi thực hiện hệ thống bầu cử như FPTP. Với những đối tượng này, cần có một cuộc giao dịch có lợi cho họ về nội các, các mục ngân sách hoặc chính sách ưu đãi. Một lý do khác cho họ tham gia vào liên minh cải cách có thể là vì họ sợ sẽ bị mất phiếu bầu cử cho lần tiếp theo nếu họ phản đối cải cách.

Những yêu cầu về mặt pháp lý cho cải cách hệ thống bầu cử khác nhau ở từng nước. Ở một vài quốc gia, hệ thống có thể được thay thế bởi các nghị định điều hành, trong khi ở những nước khác lại đòi hỏi đa đa số hoặc đại đa số quốc hội thông qua. Nếu một quốc gia đã được dân chủ, sẽ cần phải có một số hình thức ủng hộ lập pháp ở những mức độ khác nhau. Ở mức độ cao hơn, chi phí liên quan đến việc tạo liên minh cũng nhiều hơn. Như chúng ta cũng sắp thấy, Nhật Bản và Đài Loan đều đáp ứng được 3 điều kiện trên, và ở mỗi thể chế khác nhau, tốc độ thay đổi và thực hiện các cải cách được ban hành cũng khác nhau.

Nhật Bản:  Kế hoạch cũ cho một quốc gia mới

Hệ thống bầu cử SNTV đã tồn tại rất lâu tại Nhật Bản. Được lựa chọn bởi các xây dựng đất nước hiện đại, hệ thống này đã được sử dụng trong hầu hết các cuộc bầu cử từ cuối thế kỉ XIX cho đến năm 1994. Các hình thức hiện tại của hệ thống SNTV đã được áp dụng từ năm 1947 và cùng tồn tại với sự thống trị lâu năm của Đảng tự do Dân chủ (từ năm 1955 đến 1993). Những tai tiếng chính trị nổ ra dưới sự thống trị của Đảng tự do Dân chủ, và trước sự phản kháng của người dân, Đảng đã nhận ra những sai sót của hệ thống bầu cử. Năm 1956, Thủ tướng Ichiro Hatoyama với hi vọng quốc hội Nhật Bản có thể sửa đổi hiến pháp đã không thành công khi muốn thay thế hệ thống SNTV bằng hệ thống FPTP. Sau năm 1960, hạ viện đã thành lập nên Hội đồng tư vấn cải cách bầu cử có nhiệm vụ chính trong việc thu hẹp những đề xuất thành các biện pháp thay thế (hầu hết là sự kết hợp giữa SNTV và FPTP). Tuy nhiên phải đến tận năm 1994, khi cả 3 điều kiện trên được đáp ứng, những đề xuất của hội đồng mới nhận được sự ủng hộ từ Quốc hội.

Trong suốt những năm thống trị của Đảng Tự do Dân chủ, hàng loạt các thủ tướng ủng hộ hệ thống bầu cử FPTP cũng nhận ra rằng số ghế của đảng cầm quyền sẽ trở nên ngày một khuếch đại hệ thống được đề xuất tương đối thấp. Những kẻ đảo ngũ từ đảng tự do dân chủ đã tuyên bố đầy sức thuyết phục họ là những nhà cải cách tân tiến. Tuy nhiên, họ cũng có nhiều lí do khi quyết định lựa chọn ủng hộ đề xuất nghiêng về phía FPTP. Ví dụ, những người ủng hộ LDP lại thuộc một hệ thống mạng lưới đặc biệt, chủ yếu là ở miền nông thôn. Vì vậy, những người thuộc đảng cải tổ nhìn thấy triển vọng khi tổ chức bầu cử ở khu vực các quận.

Bầu cử quốc hội năm 1993, 2 đảng cải tổ lớn đó là Japan New Party và Janpan renewable party đã thể hiện khá tốt, tước đi địa vị độc tôn của Đảng tự do dân chủ. Điều này còn thúc đẩy cả 2 đảng giới thiệu những hệ thống cải cách bầu cử mới, khiến cho Đảng tự do Dân chủ khó có thể dành lại được quyền lực của mình, cho dù tận dụng phương pháp dụng binh truyền thống. Hơn nữa, trong khi 42,9 % ứng viên được bầu cử thuộc Đảng JNP và 44,4% ứng viên thuộc đảng JRP có vị trí cao trong những người ở địa phương, chỉ có 25,3% đứng vị trí đầu ở địa phương của họ. Điều này cho thấy rằng những ứng viên thành công ở đảng đối lập sẽ có nhiều cơ hội được chọn, thậm chí có áp dụng hệ thống FPTP đi nữa.

Sự chia rẽ của đảng LDP cũng như những thay đổi trong hệ thống chính trị đã cho chúng ta hiểu rõ hơn tại sao cải cách chính trị lại thành công trong đầu những năm 90. Trên thực tế, một trong số những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của đảng LDP đó là do mâu thuẫn và tranh chấp nội bộ. LDP thậm chí còn bị suy yếu khi những nhà cải cách từ bỏ đảng mà thành lập hoặc gia nhập vào các đảng đối lập. Cũng đáng chú ý rằng tất cả các đề xuất cải cách năm 1956, 1976 và cuối 1980 đều bị từ chối khi đảng LDP vẫn cầm quyền. Kết quả của bầu cử năm 1993 rõ ràng chỉ ra rằng người Nhật muốn trừng phạt thích đáng những ai chống lại cải cách. Đặc biệt những ứng viên của Đảng xã hội và cộng hòa không được tín nhiệm nhiều trong bầu cử cũng là bằng chứng chứng tỏ rằng Đảng đã bị mất uy tín. Điều này được xem như một báo động đối với các chính phủ liên minh, những người hỗ trợ cho cải cách bầu cử diện rộng. Họ cũng không thể trông chờ vào vận may dưới chế độ bầu của FPTP được, và dường như họ phải phản đối những cải cách dự thảo, nếu không những cử tri bầu cử sẽ có những phản ứng thích đáng.

Sau sự xáo trộn của hạ viện năm 1993, tranh luận về vấn đề cải cách bầu cử cũng thu được một số những thành tựu nhất định, được coi là động lực cho cải cách. Đảng JRP và Đảng CGP ủng hộ một hệ thống hỗn hợp với FPTP, trong khi JNP và Đảng New Harbinger (NPH) lại cương quyết muốn sử dụng hệ thống bầu cử hai lá phiếu, theo đó các cử tri bỏ một phiếu cho một Đảng và người khác sẽ bỏ phiếu cho một ứng cử viên.

Việc chính quyền liên minh đã đưa ra phiên bản cuối cùng của dự thảo luật bầu cử mới được coi như là một cách thỏa hiệp. Tỷ lệ phần trăm ủng hộ hệ thống FPTP cao vẫn phản ánh sự ảnh hưởng của các chính trị gia – những người có cơ hội cao nhận được phiếu ủng hộ.  Những dự thảo được đưa ra bởi vì các nhà lãnh đạo ở các đảng nhỏ hơn đang cùng chung một danh mục đầu tư – đây được xem là một cơ hội ngoài sức tưởng tượng khi Đảng LDP kiểm soát chính quyền. Những Đảng này cũng đã nhận được những lợi ích bên ngoài bởi các dự thảo cải cách được đưa ra trong luật bầu cử mới (ví dụ như các hạn chế của Đảng cũng như chiến dịch tài chính)

Trong khi đồng minh của những nhà cải cách kiểm soát đại đa số hạ viện, thì họ lại không thể kiểm soát tương tự với thượng viện. Hệ thống lưỡng viện của Nhật bản đã giúp cho thượng viện có quyền bác bỏ những động thái của hạ viện nếu không liên quan đến ngân sách, kho bạc nhà nước hay vấn đề lương bổng. Chỉ có 2/3 tổng số hạ viện có thể vượt qua được sự bác bỏ này của thượng viện. Chính quyefn đồng minh không hỗ trợ phần lớn thược viện, và chỉ kiểm soát được 2/3 hạ viện. Theo dự đoán, thượng viện đã bác bỏ dự thảo cải cách được thông qua bởi hạ viện vào ngày 18 tháng 11 năm 1993, buộc thủ tướng Morihiro Hosokawa tổ chức một cuộc gặp khẩn cấp với lãnh đạo đảng LDP. Khi các dự thảo đã được điều chỉnh bởi thượng viện vào tháng 1 năm 1994, nội dung đã được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu của Đảng LDP. Cụ thể, phần trăm ghế FPTP tăng lên lừ 250 đến 300 ghế, áp dụng chung công thức đã được đề xuất trong 2 bản dự thảo trước đó của LDP. Đối với các Đảng nhỏ hơn, chỉ còn 1 hi vọng duy nhất là 200 ghế đại diện tỷ lệ(sau này đã được giảm xuống 180) được chọn từ 11 quận đại diện.

Đài Loan: Một Đảng hơn cả một Quốc gia.

Hệ thống bầu cử SNTV ở Đài Loan cũng được áp dụng trong thời gian khá dài. Mặc dù những luật lệ của Kuomintang (KMT, Quốc dân Đảng) từ năm 1949 đến 1992 có nghĩa rằng không phải tất cả thành viên của hệ thống lập pháp Yuan đều được chọn, hệ thống SNTV vẫn được sử dụng rộng rãi ở cả các cơ quan lập pháp và địa phương trong gần 70 năm. Hệ thống được đưa vào năm 1935, dưới sự cai trị của thực dân Nhật nhằm mục đích lựa chọn thành viên của các hội đồng địa phương. Vì vậy các cử tri Đài Loan khá quen với hệ thống SNTV và hệ thống này đã trở thành một đặc trưng của nền chính trị bầu cử ở Đài Loan. 

Sau khi Đài Loan thua trong cuộc nội chiến Trung Quốc năm 1949, Đảng Quốc Dân đã duy trì sự cai trị của mình bằng cách khẳng định rằng các Đại biểu ở Trung Quốc trước năm 1949 sẽ không phải bầu cử lại cho tới khi chính phủ có trụ sở tại Đài Loan hồi phục được chính đất. Khi Quốc dân Đảng được xem như một chế độ “di cư” và phải đối mặt với các thách thức của địa phương khi muốn thống trị Đài Loan, việc áp dụng hệ thống bầu cử SNTV sẽ giúp Quốc Dân Đảng có lợi về nhiều mặt. Đầu tiên, ngay sau khi Quốc Dân Đảng xâm nhập vào Đài Loan ,việc tổ chức bầu cử ở địa phương đã giúp biện minh cho Đảng Quốc Dân  tham gia một phần vào cạnh tranh chính trị ở Đài Loan. Trong khi Quốc Dân Đảng đôi lúc có những vấn đề trong việc chiếm phòng điều hành của địa phương, SNTV đã giúp Đảng thống trị được các hội đồng địa phương. Hơn nữa, bằng việc hợp tác với một số thành viên ở tầng lớp thượng lưu bản địa ở Đài Loan, đảng Quốc Dân đã khiến cho hình ảnh về một Đảng “di cư” trở nên mờ nhạt ở Đài Loan.

Thứ 2, cũng giống như trường hợp của Nhật Bản, hệ thống bầu cử đã đóng một vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng mối quan hệ ngoại giao giữa Đài Loan và Quốc Dân Đảng. Được thừa hưởng chế độ nhà nước kiểm soát kinh tế từ chính phủ thực dân Nhật Bản, Đảng Quốc Dân đã có những quyền lực về kinh tế và chính trị để kết hợp với các Đảng khác để thành lập hệ thống chính trị ở nhiều cấp. Việc này đã khiến cho Đảng Quốc Dân tránh khỏi một trong những nguy hiểm lớn nhất từ hệ thống SNTV: Cử quá nhiều đại biểu ở một địa phương và chia nhỏ tổng số phiếu, để đổi lấy lợi ích từ các chiến lược của Đảng, lãnh đạo địa phương cam kết trung thành với Đảng và Nhà nước.

Cuối cùng, SNTV đã tạo ra hạn chế tăng trưởng của các lực lượng phi Quốc Dân Đảng (ban đầu được gọi là dangwai hoặc “ngoài đảng”). Ngược lại với giáo lý một nước của Quốc dân Đảng Trung Quốc, phong trào những lực lượng ngoại đảng kêu gọi đòi chủ quyền Đài Loan, lập nên một quốc gia độc lập và tự chủ là vấn đề chính trị tiên quyết của Đài Loan lúc bấy giờ. Tuy nhiên phong trào này không tạo ra được đòn bẩy về kinh tế, chính trị, tổ chức kỷ luật hoặc các nguồn tài nguyên chiến lược cho Quốc Dân Đảng. Vì vậy, khi phong trào này lan rộng và các thành viên bắt đầu chống lại nhau trong cuộc bầu cử, phong trào này sẽ bị chia rẽ nội bộ.


Mặc dù chỉ một phần của hệ thống lập pháp Yuan được ưu tiên chọn trong quá trình chuyển giao sang dân chủ những năm đầu 1990, SNTV ở Đài Loan cũng đóng một vai trò tương tự như ở Nhật Bản. Các thủ tướng của Đảng Dân chủ Lien Chan lần đầu đề cập đến vấn đề cải cách bầu cử sau khi gần như thất bại vào cuộc bầu cử hệ thống lập pháp Yuan năm 1994. Cho dù thất bại ở cuộc bầu cử này, đảng cầm quyền vẫn dành được tất cả các ghế của cử tri ở địa phương. Điều đó đã khiến cho thủ tướng Lien có động cơ để đề xuất 1 hệ thống trong đó phần lớn các vị trí sẽ được bầu chọn qua phương thức bầu cử FPTP.

Đảng Quốc Dân sớm ủng hộ hệ thống bầu cử hỗn hợp giống Nhật Bản, cho dù có rất nhiều thành viên phản đối cải cách. Vị thế của các đảng khác cũng thay đổi theo sự chuyển biến của hệ thống bầu cử. Ví dụ Dân Tiến Đảng (DPP) mong muốn thực hiện theo hình thức giống nước Đức và hệ thống hoàn toàn cân đối cuối năm 1996. Tuy nhiên sau chiến thắng tổng thống vào năm 2000 và 2004, Đảng Quốc Dân lại muốn chuyển sang giống hình thức hệ thống hỗn hợp nửa tỷ lệ của Nhật Bản. Các Đảng nhỏ hơn ở Đài Loan nhìn chung không ủng hộ hình thức FPTP cho dù ở hình thức nào, mà họ mong muốn có 1 hệ thống tỷ lệ hoàn toàn.

Tuy nhiên, phải tốn gần chục năm để những cải cách bầu cử của ông Lien mới đi vào thực tế. Vào tháng 8 năm 2004, cơ quan lập pháp Yuan đã ủng hộ đề xuất sửa đổi hiến pháp mà giảm một nửa số ghế  (225-113 chỗ ngồi) và thực hiện một hệ thống bầu cử hỗn hợp với mỗi cử tri được bầu hai phiếu (một cho mỗi ứng cử viên và 1 cho đảng). Dưới hệ thống mới này, 73 ghế đã được bầu cử bởi hệ thống FPTP, 34 ghế khác (1 nửa trong số đó là cho phụ nữ) đã được phân định bởi danh sách đại diện tỷ lệ ở các địa phương trên cả nước và 6 ghế cho khu vực kém phát triển. Quộc hội đã ủng hộ những đổi mới trên vào tháng 7 năm 2005, tinh giảm xuống còn 334 ghế. Cho dù các đề xuất cải cách đã được thông qua chỉ sau khi Quốc Dân Đảng đã mất phần lớn nhân sự ở cơ quan lập pháp, đây chính là thời điểm mà không có Đảng nào kiểm soát hay giữ vai trò quan trọng hơn các Đảng khác, và những thay đổi của hệ thống bầu cử cũng tương tự như những gì mà ông Lien đề xuất năm 1994.

Cũng giống như Nhật Bản, có rất nhiều nguyên nhân giúp cho nỗ lực cải cách thành công ở Đài Loan. Một số chính trị gia, chủ yếu là từ đảng Quốc Dân và Đảng Dân Tiến đã khẳng định rằng họ có thể có được rất nhiều lợi ích từ hệ thống bầu cử mới. Trong khi 2 Đảng đối lập cùng giải quyết vấn đề dành độc lập cho Đài Loan, họ lại đều ngấm ngầm tìm cách hạ thấp tỷ lệ bầu cử của đối phương để tăng tính cạnh tranh cho Đảng của mình. Dưới hình thức bầu cử SNTV, nếu một đảng đề cử quá nhiều ứng viên trong một địa phương, lá phiếu bầu cử có thể bị hạ xuống và thậm chí là mất vị trí trong Quốc hội bởi vì lá phiếu cho những ứng viên thiếu tiềm năng không thể chuyển sang các ứng viên khác trong Đảng. Nhưng nếu Đảng đó đề cử quá ít ứng viên, có thể dẫn đến việc lãng phí tiềm năng. Quốc Dân Đảng năm 2001, Đảng Dân Tiến năm 2004, khá lạc quan về cơ hội bầu cử của họ khi họ đề cử quá nhiều những ứng viên, giảm lượt bầu cử trung bình của các ứng viên đó. Bởi sự sai sót trong tính toán, Đảng Quốc Dân và Đảng Dân Tiến nhận ra rằng dưới hệ thống FPTP, cơ hội dành chiến thắng của họ sẽ cao hơn và có thể không cần những chiến lược đề cử công phu.

Giống như Nhật Bản, Đài Loan cần phải có những động thái để tăng hỗ trợ cần thiết cho cải cách bầu cử. Các Đảng yếu hơn, đặc biệt là đặc biệt là Đảng Thân dân PFP và Đảng Liên Minh Đoàn kết Đài Loan TSU ( đảng độc lập tay sai của đảng Dân Tiến DPP) đang bị đe dọa bởi đề xuất cải cách hệ thống bầu cử theo đa số. Tuy nhiên sự phản đối của họ đã được xoa dịu bởi việc kết hợp vào gói cải cách những lợi ích mà họ đang mong muốn. Đảng TSU đã đạt được mục tiêu lâu dài đó là thâu tóm được một nửa lập pháp viện Yuan. Đảng PFP thì ngược lại, được xoa dịu bằng cách bổ sung sửa đổi hiến pháp để có thể nhận được sự ủng hộ của đại đa số nhân dân trong cuộc trưng cầu dân ý. Quy định này đảm bảo được đối thủ của Đài Loan – cụ thể là đảng PFP sẽ khó có thể thực hiện bất cứ thay đổi nào trong hiến pháp tương lai theo hướng độc lập.

Hiệu quả của cuộc cải cách ở Nhật Bản

Nếu Nhật Bản áp dụng hệ thống bầu cử mới, phản ánh ý định tạo ra môi trường chính trị thuận lợi hơn của các chính trị gia thì chúng ta cũng nên hi vọng cuộc bầu cử được tổ chức bằng những quy định mới khác  xưa.
Bảng 1—Sự phát triển của hệ thống chính trị Nhật Bản
EFFECTIVE NUMBER
SEAT SHARE OF
TOTAL SEAT
Năm bầu cử
OF LEGISLATIVE
THE LARGEST
SHARES OF TWO
PARTIES
PARTY*
LARGEST PARTIES
1980
2.66
0.57
0.78
1983
3.23
0.49
0.71
1986
2.57
0.59
0.75
1990
2.71
0.53
0.80
1993
4.26
0.43
0.56
1996
2.94
0.48
0.79
2000
3.18
0.49
0.75
2003
2.56
0.49
0.86
2005
2.23
0.62
0.85
Theo một số nhà cải cách, kế hoạch bầu cử bằng hệ thống mới sẽ tập trung nhiều hơn vào các mâu thuẫn chính trị hơn là tái phân bổ nguồn lực, cuộc cạnh tranh giữa 2 đảng sẽ chuyển thành sự thống trị độc đảng. Các Đảng nhỏ hơn sẽ phải chú ý tới hình ảnh của mình để có được số ghế đại diện, hơn là cố gắng khai thác các kết nối địa phương vô ích. Có chăng hệ thống mới đã mang lại những kết quả như mong muốn khi nhìn vào những kết quả đạt được từ cuộc bầu cử hạ viện năm 1996, 2000, 2003 và 2005.

Kể từ khi đảng LDP mất vị trí ưu thế trong cuộc bầu cử năm 1993, Nhật Bản đã phải mất khá nhiều thời gian trong việc tái tập hợp lại các Đảng. Đảng New Frontier được thành lập năm 1994 với mục đích hợp nhất các chính trị gia không theo đảng LDP. Trước cuộc bầu cử hạ viện năm 1996, một số chính trị gia đã hình thành nên Đảng Dân chủ, sau đã chuyển thành Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) năm 1998 bằng việc kết hợp với một số Đảng nhỏ hơn. Đảng Dân chủ Nhật Bản đã thể hiện khá tốt trong cuộc bầu cử năm 2000 và hợp nhất với Đảng tự do của Ichiro Ozawa vào năm 2003. Nhờ đó, Nhật Bản đã có 2 Đảng lớn đối lập nhau. Kể từ đó, chính trị Nhật Bản bị chi phối bởi cuộc đua giữa đảng LDP và Đảng DPJ, các Đảng khác chỉ đóng vai trò chi nhánh cho 2 Đảng này. Những thăng trầm của hậu cải cách Nhật Bản vẫn không nằm ngoài giả thuyết đảng phái, hơn nữa, chúng còn phản ánh cuộc đấu tranh giữa các đảng đối lập để dành cương vị lãnh đạo trong việc chống lại đảng LDP. Vì vậy, xét về xu hướng dài hạn, hệ thống chính trị Nhật Bản có thể trở thành hệ thống 2 Đảng.

Một chỉ số tốt chứng tỏ hiệu quả của cải cách hệ thống Đảng ở Nhật đó là số lượng các bên lập pháp. Con số này càng nhỏ thì chứng tỏ việc lựa chọn các thành viên trong lưỡng viện càng được chọn một cách ngẫu nhiên từ 1 Đảng. Bảng 1 đã chỉ ra của số lượng ứng viên của các Đảng trong hạ viện, thể hiện một mâu thuẫn khá thú vị trong 2 thập kỉ vừa qua. Tới năm 1993, việc hệ thống Đảng đã thực sự bị đổ vỡ là 1 mắt xích rất quan trọng cho thành công của cải cách bầu cử. Ảnh hưởng của hệ thống bầu cử mới được chỉ ra bởi số lượng các bên lập pháp năm 1993 đã giảm, và hiện tại bây giờ chỉ số ấy đang tiệm cận 2. Bảng 1 cũng chỉ ra tổng số ghế của 2 đảng lớn nhất hạ viện, số ghế ấy không chỉ tăng mà bây giờ còn đang ở ngưỡng cao hơn trong suốt thời kì 1 đảng thống trị. Hệ thống 2 đảng rõ ràng đang được hình thành tại Nhật Bản.

Một điều đáng chú ý nữa đó là sự chuyển đổi ghế trong Đảng LDP - luôn được coi là Đảng lớn nhất của Nhật Bản. Cho dù cuộc bầu cử hạ viện năm 1993 đã khiến cho vị thế của Đảng không còn hùng mạnh như trước nữa, nhưng trong các cuộc bầu cử tiếp theo, Đảng cũng đã dần hồi phục quyền lực.
Sự khẳng định này đưa ra giả thiết rằng hệ thống bầu cử Nhật Bản được chống lưng bởi một số chính trị gia bảo thủ, những người muốn mở rộng lối sống chính trị của riêng họ. Hầu hết tầng lớp thượng lưu bắt đầu sự nghiệp của mình ở Đảng LDP, mặc dù một số đã rời Đảng để thu hút cử tri xa lánh chế độ cũ. Sự hồi sinh mạnh mẽ của Đảng LDP có mối liên quan mật thiết đến tỷ lệ của những đảng mới  thấp và nhiều hệ thống bầu cử đa số hơn. Trong 4 lần bầu cử hạ viện trước, số phiếu ủng hộ Đảng LDP lần lượt là: 38.6%, 41.0%, 43.9%, và 48.0%. Số phiếu đại diện tỷ lệ giảm xuống so với cùng kì (sử dụng bầu cử 2 phiếu riêng biệt). Hệ thống mới này đã tăng số ghế của đảng LDP lên một cách đáng kể, thậm chí đạt mức đáng kinh ngạc 62% vào năm 2005. Nếu không có hệ thống bầu cử mới này, Đảng LDP sẽ không phải trải qua giai đoạn khó khăn để duy trì sự thống trị của mình.

Nói về kế hoạch bầu cử, các nhà cải cách hi vọng rằng hệ thống bầu cử kiểu mới sẽ làm tăng tầm quan trọng những tranh biện về chính sách định hướng Đảng và cuộc cạnh tranh giữa 2 Đảng phái. Tuy nhiên những tư tưởng của hệ thống cũ vẫn ảnh hưởng lên kế hoạch bầu cử mới. Ví dụ trong cuộc bầu cử năm 1996, thuế thu nhập tăng là một vấn đề nổi bật đã chia rẽ các phe phái chính trị. Tuy nhiên hầu hết những ứng viên đều chủ yếu dựa vào nhóm hỗ trợ cá nhân để có thể có được phiếu bầu. Cuộc cạnh tranh 189 ghế đại diện cũng diễn ra theo tính cá nhân khi hệ thống bầu cử mới cho phép các ứng cử kép. Theo đó, các ứng viên vừa có thể cứng cử 1 ghế FPTP và cũng được ứng cử trong danh sách đại diện của Đảng. Tuy nhiên về lâu về dài, khi hệ thống 2 Đảng được hình thành, phương thức vận động của chiến dịch dường như tập trung nhiều vào các mâu thuẫn và vấn đề chính sách.

Liệu rằng Đài Loan có đi theo đường hướng của Nhật Bản?

Đài Loan cũng đã có những thay đổi rất lớn về hệ thống bộ máy chính trị kể từ khi chuyển sang dân chủ đầu năm 1990. Tuy nhiên không giống như Nhật, việc phân chia đảng phái cơ bản vẫn không thay đổi: Hầu hết các Đảng được hình thành từ 1992 là các Đảng nhỏ tay sai của 1 trong 2 Đảng lớn là Quốc Dân Đảng (chống độc lập) và Đảng DPP (độc lập). Trong tháng 8 năm 1993, một nhóm các nhà chính trị đô thị đã rời khỏi Quốc Dân Đảng và thành lập nên Đảng mới NP. Năm 2000, sau khi thua bầu cử tổng thống, Tổng thư kí tiền nhiệm James Soong cũng đã rời đảng và thành lập nên đảng PFP. Về phía đảng DPP, một chi nhánh của tổng thống Lý Đăng Huy đã tạo nên Đảng Liên Minh Đoàn kết Đài Loan cuối năm 2000 để thu hút những người trung thành bảo vệ độc lập. Mặc dù có sự phân mảnh này, số phiếu bầu của 2 bên đều khá ổn định: Đảng Quốc Dân nhiều hơn Đảng Liên Minh đoàn kết 1 phiếu.
Bảng 2— Quá trình phát triển hệ thống chính trị Đài Loan

EFFECTIVE NUMBER
SEAT SHARE OF
ELECTION YEAR
OF LEGISLATIVE
THE LARGEST
PARTIES
PARTY*
1992
2.55
0.59
1995
2.65
0.52
1998
3.24
0.55
2001
3.48
0.39
2004
3.26
0.40
*1992–98: KMT; 2001–2005: DPP


Bảng 2 phản ánh sự tiến triển của hệ thống Đảng Đài Loan trong hơn 10 năm qua. So sánh với tiền cải cách Nhật Bản, chúng ta có thể thấy một sự tương đồng nổi bật: Hệ thống Đảng đã bị phân mảnh và đảng lớn nhất không còn kiểm soát được cơ quan lập pháp của quốc gia. Nếu những điều kiện này giải thích tại sao Đài Loan theo mô hình cải cách bầu cử ở Nhật Bản, hệ quả sau khi cải cách ở Nhật Bản có thể chỉ ra được tương lai của Đài Loan. Tuy nhiên chúng ta cần ghi nhớ 2 điểm về chính trị Đài Loan khi so sánh: Đầu tiên sự cứng nhắc trong phân tách quốc gia và thứ 2 là hệ thống bầu cử tống thống.

Khi bầu cử được thực hiện dưới hệ thống SNTV, việc bầu cử cơ quan lập pháp của Đài Loan không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này. Hệ thống này khuyến khích đại diện đặc thù chứ không phải là các tranh chấp về chính sách, và các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống diễn ra với những hình thức bầu cử khác nhau. Tuy nhiên với những cải cách bầu cử năm 2004, các nhân tố này có thể bắt đầu ảnh hưởng đến chính trị của Đài Loan.

Việc sửa đổi hiến pháp đã gia tăng thời hạn của các thành viên lập pháp viện Yuan từ 3 đến 4 năm, điều đó tạo ra một chu kỳ bầu cử không bình thường khi tổng thống và cơ quan lập pháp cùng là 4 năm. Hơn nữa, vì hiến pháp đòi hỏi các thành viên cơ quan lập pháp phải triệu tập vào tháng 2 và tổng thống bắt đầu nhiệm kì vào ngày 20 tháng 5 của năm bầu cử, cuộc bầu cử cơ quan lập pháo và tổng thống sẽ lần lượt diễn ra vào tháng 12 và tháng 3. Ngoại trừ trường hợp cơ quan lập pháp bị giải thể sau một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm, cuộc bầu cử cơ quan lập pháp và tổng thống sẽ diễn ra cách nhau 1 vài tháng, hết lượt này đến lượt khác. Bởi vì khoảng thời gian này khá ngắn, Đài Loan có thể sẽ gặp phải một hiệu ứng phổ biến khi tổ chức bầu cử đó là: một Đảng có số phiếu cao hơn sẽ kiểm soát cả cơ quan lập pháp và hành pháp.

Hơn nữa, động lực của cuộc bầu cử tổng thống sẽ có thể tác động mạnh đến vấn đề vận động lập pháp. Khoảng thời gian ngắn giữa 2 cuộc bầu cử có nghĩa là khi bầu cử cơ quan lập pháp diễn ra, các đảng đã sẵn có những ứng viên tổng thống được đề cử. Kể từ khi Đài Loan bầu cử tổng thống theo hệ thống bầu cử FPTP, những cử tri có xu hướng hướng về 2 ứng viên cho chức tổng thống. Cuộc đua tổng thống giữa 2 người có thể làm mờ đi bầu cử cơ quan lập pháp và khiến các Đảng nhỏ hơn sẽ khó mà có được tiếng nói trong suốt quá trình bầu cử. Với chút ít hi vọng dành được chiến thắng nhiệm kì tổng thống hoặc ghế ở lập pháp viện, các Đảng sẽ cá cược mọi thứ để dành được ghế tỷ lệ đại diện. Mặc dù vậy, trừ khi các đảng dẫn đầu thất bại trong việc dành quyền ưu thế ở cơ quan lập pháp thì các đảng nhỏ hơn sẽ nhanh chóng đánh mất vị trí quan trọng của mình với vai trò là các đối tác liên minh tiềm năng. Do đó, Đài Loan cũng có thể đang dần chuyển sang hệ thống 2 đảng nhanh hơn so với Nhật Bản.

Mặc dù hiếm khi được sử dụng, nhưng hệ thống bầu cử SNTV phù hợp về văn hóa và đáp ứng được nhu cầu của các nước mới nổi. Khi hệ thống Đảng ở những đất nước này thường xuyên hoặc không tồn tại hoặc bất ổn, hệ thống bầu cử SNTV khiến quá trình bầu cử đơn giản hơn bằng cách yêu cầu các cử tri chọn một ứng viên chứ không chọn đảng. Nó cũng giúp công tác kiểm phiếu đơn giản và gọn hơn là cách đại diện tỷ lệ hay bất cứ loại hình bầu cử nào. Hệ thống này cũng tương đối theo tỷ lệ, vì vậy nó bảo vệ quyền lợi của đại diện của dân tộc thiểu số.

Hơn nữa, SNTV có xu hướng gây bè phái ở những lợi ích địa phương, giúp những người xây dựng nhà nước dễ dàng để thực thi các lệnh của họ từ trung tâm bằng cách cung cấp các cơ quan hành chính địa phương những quyền lợi cụ thể. Từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Đài Loan, những nhân tố ấy đóng góp đến sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên đối số không thể đảo ngược: SNTV vốn không có lợi cho bên chiếm ưu thế, mà là giúp một nhà nước vững mạnh. Những đất nước dân chủ non trẻ nên tìm phương án khác để phát triển kinh tế của mình.


Tuy nhiên, khi một hệ thống thống trị hoạt động song song với SNTV, một số công dân sẽ luôn không tán thành hệ thống ấy. Tình trạng này cuối cùng sẽ khiến một số chính trị gia đề xuất cải cách bầu cử để làm tăng tỷ lệ cho họ có thể có cơ hội. Động lực này không chỉ giải thích cho việc không chấp nhận hệ thống SNTV mà còn giải thích cho những hệ quả sau đó. Như có thể thấy từ thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi (2001 đến nay), Đảng LDP lấy lại quyền lực dưới triều đại của ông bằng cách lựa chọn một chiến lược mới. Với Đài Loan đã thông qua hệ thống bầu cử mới, Quốc Dân Đảng cũng có cơ hội để tăng sức ảnh hưởng của mình một lần nữa nếu Đảng đó có thể chơi trò chơi bầu cử theo một cách khác. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

 
Blogger Templates