Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

[Dịch] - Chương 13 - REJOINDER: TRƯỜNG HỢP CÓ TỈ LỆ CÂN ĐỐI


REJOINDER: TRƯỜNG HỢP CÓ TỈ LỆ CÂN ĐỐI
(REJOINDER: THE CASE FOR PROPORTIONALITY)
Andrew Reynolds.
Andrew Reynolds là phó giáo sư ngành khoa học chính trị tại Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Ông quan tâm đến những vấn đề về bầu cử và dự thảo Hiến pháp trên phần lớn các quốc gia. Cuốn sách mới nhất của ông có tên Cấu trúc của Dân chủ: Dự thảo Hiến pháp (constitutional design), Quản trị xung đột và Dân chủ (2002). This essay được tờ Tạp chí Dân chủ (Journal of Democracy) phát hành vào tháng 10 năm 1995.
Trong “Bầu cử trong xã hội nông nghiệp” (Elections in Agrarian Societies), Joel Barkan đặt ra 1 thách thức lớn đến the newly emerging conventional wisdom rằng proportional representation (PR) là cách thức bầu cử tốt nhất dành cho những người thiếu kinh nghiệm – and often highly divided-democracies of Africa. Trước tiên, ông phân tích những điểm yếu của PR (or even severing) trong sự liên kết giữa những MPs riêng lẻ và những cử tri. Chúng cản trở sự phát triển của chiều kích “thẳng đứng” (“vertical” dimension) của dân chủ (đó là mối quan hệ tiêu biểu giữa những thành phần ưu tú và những thành phần không ưu tú trong cùng một lợi ích chính trị chung), “giảm bớt những triển vọng về sự thống nhất của luật lệ dân chủ” (tr.136). Theo Barkan, mối quan hệ giữa những đại diện và những người bầu cử tồn tại trong một single-member district (SMD) phản ánh rõ nhất bản chất của xã hội nông nghiệp tại Châu Phi, mà những ràng buộc mạnh nhất là ở mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng và đất canh tác, đồng thời mọi người “xác định rõ những lợi ích chính trị của họ… trên cơ sở nơi mà họ sống” (tr.136). Trong khi đồng tình rằng một vài cấp độ của tính cân đối (thể hiện ở sự bảo vệ quyền lợi thiểu số) là a normative good, ông cũng chỉ rõ rằng khuôn khổ sự phân chia bầu cử theo địa lý trong các xã hội nông nghiệp cho phép hệ thống đa nguyên SMD (SMD plurality systems) bầu ra quốc hội, đó là sự phản ánh hợp lí của sự phân bổ phiếu phổ thông trên cả nước. Do đó họ có thể giữ lại một trong những trụ cột của chính phủ liên hiệp (a proportionally constituted parliament) trong khi tránh xa những hạn chế cơ bản của PR: Tình trạng phân rã và thiếu trách nhiệm giải trình của những người đại diện được chọn lựa trong danh sách các bên.
Sự thật là khi mô hình bỏ phiếu gắn liền với sự chia tách giữa các nhóm mà các nhóm ấy được xác định bới những đặc điểm tiêu biểu (ví dụ như chủng tộc, sắc tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo), và khi những nhóm khác tập hợn lại ở những khu vực khác nhau, cuộc bầu cử được tổ chức bởi SMD plurality có thể đem lại kết quả với tỉ lệ cao. Barkan cũng nhấn mạnh rằng, cuộc tổng tuyển cử năm 1994 ở Malawi đã bầu ra một quốc hội mà quốc hội này là hình ảnh trung thực về sự phân bố phiếu phổ thông trong ba đảng chủ chốt. Chỉ số mất cân đối (ID) của cuộc bầu cử đo được mức độ mà sự phân bố các vị trí trong quốc hội giữa những đảng khác nhau bằng với sự phân bố các lá phiếu, con số 0 cho thấy một kết quả hoàn toàn cân xứng. Tỉ số trong những số liệu về cuộc bầu cử của người Malawi (2.1) thấp hơn những tỉ số trong tất cả những cuộc bầu cử đa nguyên  but three of the established democracies for which data are presented in Arend Lijphart’s comprehensive Electoral Systems and Party Systems, bao trùm trong suốt giai đoạn từ 1954 đến 1990 (1). Tương tự, bầu cử quốc hội phân bổ theo địa phương năm 1985 ở Zimbabwe có chỉ số ID là 2.5, sự lặp lại với cuộc bầu cử quốc hội năm 1994 ở Nam Phi và Namibia (được tổ chức bởi hệ thống PR) chỉ ra rằng SMD plurality có kết quả với tỉ lệ tương đối, ID vào khoảng 6.7 và 4 với từng quốc gia. (2)
Chỉ số ID của các quốc gia đã diễn ra bầu cử cho chúng ta biết nhiều hơn về thành phần của quốc hội. Chỉ số ID cao có khả năng cao được hiểu như sau: 1) Những đảng thiểu số (minority parties) được nhận ít hoặc không có người đại diện; 2) Những đảng lớn được thêm nhiều hơn số ghế mà họ có được từ những lá phiếu phổ thông; 3) Các chính phủ với 100% quyền hành pháp are being catapulted into the office với số phiếu nhỏ hơn 50% phiếu phổ thông; 4) Các chính phủ dựa trên đa số phiếu bầu nhận quyền lực của đại đa số (Ở Nam Phi, where the use of a plurality system would have provided the African National Congress [ANC], nhận được 62% phiếu với 2/3 số ghế trong Quốc hội – đủ thẩm quyền để viết bản hiến pháp mới mà không gặp bất kì sự cản trở nào).
Trường hợp cá biệt
Những bằng chứng ở Malawi năm 1994 và ở Zimbabwe năm 1985 (và giả định ở cả Nam Phi và Namibia) dường như có ngụ ý rằng, ở phía Nam châu Phi, SMD plurality có thể cung cấp “the best of both world” – a proportionally constituted parliament, song song với những lợi ích tiêu biểu của a district-based system. Barkan cho rằng “trong các xã hội nông nghiệp… PR không tạo ra những kết quả bầu cử công bằng hơn hay toàn diện hơn so với bầu cử đa nguyên dựa trên SMDs” (tr.163). Tuy nhiên, kết quả ở Malawi và Zimbabwe không được phản chiếu trong nền dân chủ đã được thành lập ở Châu Phi nói chung, hay ở nam Châu Phi nói riêng. Tóm lại, đó là những trường hợp cá biệt và chúng ta phải chú ý để không bị chúng đánh lạc hướng.
Tính trung bình, năm quốc gia sử dụng SMD plurality cho bầu cử dân chủ tại nam châu Phi từ 1956 có chỉ số ID ngang hàng với bầu cử đa nguyên ở các quốc gia khác trên thế giới (Bảng 1).
BẢNG 1
a.    13 cuộc bầu cử tại Botswana, 1965-1994; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985 (common roll), 1990, 1995.
b.    6 cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Nam Phi, 1994, Zimbabwe, 1980.
c.    20 cuộc bầu cử tại Boswana, 1965-1994; Gambia, 1966-1992; Kenya, 1992; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985-1995.
d.    13 cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Benin, 1991; Burkina Faso, 1992; Burundi, 1993; Cape Verde, 1991; Madagascar, 1993; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Niger, 1993, 1995; Nam Phi, 1994; Zimbabwe, 1980.
e.    Được tính từ số liệu của 78 cuộc bầu cử tổ chức theo plurality ở 5 quốc gia: Canada, 1945-1988; Ấn Độ, 1952-1984; New Zealand, 1946-1990; Vương quốc Anh, 1945-1992; Hợp chúng quốc Hoa Kì, 1946-1994.
f.     Được tính từ số liệu của 212 cuộc bầu cử được tổ chức theo các cách thức PR khác nhau trên 17 quốc gia: Áo, 1945–1990; Bỉ, 1946–1987; Costa Rica, 1953–1990; Đan Mạch, 1945–1988; Phần Lan, 1945–1987; Đức, 1945–1987; Iceland, 1946–1987; Ireland, 1948–1989; Israel, 1949–1988; Italy, 1946–1987; Luxem-bourg, 1945–1989; Malta, 1947–1987; Netherlands, 1946–1989; Norway, 1945–1989; Bồ Đào Nha, 1975–1989; Sweden, 1948–1988; Switzerland, 1947–1987.
Ghi chú cách tính: least squares index được phát triển bởi Michael Gallagher. Đọc “Tính cân bằng, Mất cân bằng và Hệ thống bầu cử”, Nghiên cứu bầu cử (1991): 22-51. Nguồn: Trên phạm vi châu Phi, những phép tính của tác giả có được trên cơ sở những dữ liệu tại “The Political Originas and Consequences of Electoral Systems in Africa: A Preliminary Analysis” của Shaheen Mozaffar (paper được trình bày tại hội nghị “So sánh những cuộc bầu cử dân chủ” (Comparative Democratic Elections), trường phái Kenedy về Chính phủ, Đại học Harvard, 5/1995); với các nền dân chủ đã được thành lập, các phép tính dựa trên số liệu được trình bày tại Hệ thống bầu cử và Hệ thống Đảng (Electoral Systems and Party Systems) của Arend Lijphart (New York: University Press, 1994), và được bổ sung bởi Reynolds.  
Các kết quả có phần cân đối ở phạm vi châu Phi song lại hơi thiếu cân đối so với các nền dân chủ đã được thiết lập – Britain and the inheritors of her “first-past-the-post” electoral system. Không những thế, những đại biểu của bầu cử PR chỉ ra rằng, bất chất chỉ số IDs for plurality tại Malawi và Zimbabwe ở mức thấp, when it comes to trans-lating votes into seats, PR is not just marginally superior to SMD plurality but substantially so. Bằng chứng trên khắp châu Phi cho thấy việc sử dụng 1 hệ thống bầu cử dựa trên SMDs không đảm bảo được tình trạng cân đối của kết quả bầu cử. Điều đó đúng cả với các xã hội nông nghiệp, nơi mà những mô hình bầu cử được tập trung theo khu vực địa lý. Nó cũng kéo theo việc nếu tính cân đối là một đặc trưng thiết yếu cho nền dân chủ liên hiệp (consociational democracy), plurality không được tin cậy để đảm bảo sự cân đối đó.

[Dịch xong] - Chương 9 - NHẬN DIỆN LẠI BẰNG CHỨNG


Chương 9: NHẬN DIỆN LẠI BẰNG CHỨNG

Arend Lijphart

Arend Lijphart là giáo sư danh dự về khoa học chính trị tại Đại học California, San Diego. Ông là tác giả của công trình “Những mô hình dân chủ: Hình thức của chính phủ và Hiệu lực ở 36 quốc gia” (“Patterns of Democracy: Government Forms and Performance in Thirty–Six Countries”) (1999) và nhiều công trình nghiên cứu khác về các thể chế dân chủ, việc quản lý các xã hội chịu sự chia rẽ sâu sắc, và các hệ thống bầu cử. Bài viết này xuất hiện lần đầu trong số ra mùa hè năm 1991 của Tạp chí Dân chủ (Journal Of Democracy).

Trong bài viết “Lựa chọn Hiến pháp cho những nền dân chủ mới” (“Constitutional Choices for New Democracies”), tôi đã trình bày hệ thống những bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa hiệu suất tương đối của các biến số khác nhau trong những hệ thống dân chủ, nhằm kết tập những tuyên bố và phản biện mơ hồ và bất định thường trỗi dậy xung quanh chủ đề này. Tôi đã so sánh bốn nền dân chủ nghị viện với hệ thống đầu phiếu đa số (Vương quốc Anh, Canada, Úc và New Zealand) với chín nền dân chủ nghị viện với hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (PR) (Đức, Ý, Áo, Hà Lan, Bỉ, và bốn quốc gia Bắc Âu – Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan) dựa trên hiệu lực được ghi nhận của các tiêu chí là: tính đại diện và khả năng bảo vệ những nhóm thiểu số, chất lượng của nền dân chủ, khả năng duy trì trật tự công và an ninh, cùng với khả năng quản lý nền kinh tế.

Tôi nhận ra rằng, trong những trường hợp xuất hiện sự chênh lệch giữa hai nhóm nhà nước dân chủ, nhóm thể chế đi theo hệ thống cộng hòa đại nghị kết hợp bầu cử đại diện tỷ lệ cho thấy hiệu suất tốt hơn. Có sự khác biệt khá lớn trong khả năng đại diện cho ý chí của các nhóm thiểu số (được xác định bởi khả năng đại diện cho nữ giới trong nghị viện quốc gia), trong khả năng bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số (được xác định bởi chính sách gia đình có tính sáng tạo), chất lượng của nền dân chủ (được xác định bởi lượng cử tri đi bầu), và khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp; có sự khác biệt nhỏ về tình trạng bất bình đẳng thu nhập và khả năng kiểm soát lạm phát; và có rất ít hoặc hầu như không có sự khác biệt liên quan đến khả năng duy trì trật tự công (được xác định bởi mức độ bạo loạn và tỷ lệ tử vong do bạo lực chính trị) và mức tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, tựa trên điểm nhìn truyền thống, nhưng vẫn khôn ngoan, hệ thống PR có thể vượt qua hệ thống đầu phiếu đa số tương đối trong tiêu chí về sự quan tâm đến nguyện vọng của các nhóm thiểu số nhưng lại dẫn đến việc ra quyết định kém hiệu quả, thậm chí kể cả những phát hiện của tôi về những khác biệt nhỏ hoặc không có sự khác biệt về hiệu lực của một số tiêu chí cũng được tính vào trách nhiệm của cấu trúc dân chủ nghị viện kết hợp hệ thống PR.

Guy Lardeyret và Quentin L. Quade, hai nhà biện luận hùng hồn với sự thông thái trong lĩnh vực kinh điển này, đã đề ra một loạt luận điểm phản đối chuỗi phân tích và kết luận của tôi – đấy là thách thức rất đáng hoan nghênh bởi vì họ đã xây dựng cho tôi cơ hội nhận diện lại tính hợp lệ của bằng chứng của tôi. Lardeyret và Quade cho rằng: 1) sự khác biệt trong hiệu lực của chính phủ có thể được giải thích bởi các yếu tố đứng ngoài hình thái của nền dân chủ, và vì thế những trường hợp này không thể chứng minh được tính ưu việt của thể chế dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ; 2) khi xét đến tác động quan trọng khác của các loại thể chế dân chủ, hệ thống đầu phiếu đa số tương đối luôn vượt trội; 3) một số phát hiện của tôi là kết quả của phép đo không chính xác; và 4) phát hiện của tôi mang tính thiên vị bởi những bất cập trong việc tôi lựa chọn và phân loại của các quốc gia để đưa vào phân tích. Tuy nhiên, giờ tôi sẽ chứng minh rằng đến khi tất cả những luận điểm phản đối của họ được kiểm tra trước thực tế, chính những luận điểm ấy lại có vấn đề.

Những cách giải thích khác
Ở đây, tôi đồng ý với lập luận của Quade và Lardeyret rằng sự thành công trong kinh tế không chỉ được xác định bởi chính sách của chính phủ; nhưng tôi đã nói vậy ngay trong bài viết ban đầu của tôi. Rõ ràng có nhiều yếu tố bên ngoài và ngẫu nhiên có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của một quốc gia. Tôi cũng đồng ý với lập luận của Quade rằng một số yếu tố đặc biệt đã ảnh hưởng tiêu cực đối với nước Anh. Mặt khác, chính một số quốc gia với hình thức bầu cử PR đã phải hứng chịu những thất bại tương tự: Hà Lan và Bỉ cũng là những đế quốc thực dân khá lớn đã bại trận, cơn “địa chấn xã hội – tâm lý” đã tạo nên cú sốc giải phóng thuộc địa mà nước Anh phải chịu đựng không hề kém nghiêm trọng hơn cú sốc của nước Đức sau khi bại trận và bị chia cắt, và xung đột sắc tộc cũng đã cản bước đường phát triển của Bỉ, cũng như vùng văn hóa Celtic ở ngoại vi Vương quốc Anh. Nhưng tôi không chỉ so sánh giữa nước Anh với một hoặc nhiều nước PR; Tôi so sánh một nhóm gồm bốn nền dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đầu phiếu đa số tương đối với nhóm của chín quốc gia dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử PR. Tôi đã giả định rằng khi hoạt động kinh tế của nhóm các nền dân chủ này được kiểm tra trong một thời gian dài, và khi tất cả các nước được nghiên cứu có trình độ phát triển kinh tế ngang nhau, tác động của những ảnh hưởng bên ngoài và ngẫu nhiên có xu hướng bộc lộ. Trong trường hợp không có bất cứ luận điểm chính đáng nào cho rằng, như một nhóm, tập thể các nền dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử PR đã hưởng lợi thế kinh tế bất thường từ năm 1960 đến năm 1980, và ngay cả Lardeyret và Quade cũng không đề ra luận điểm phản đối nào trong trường hộp này, nên những giả định và khám phá của tôi về sự khác biệt trong hoạt động kinh tế vẫn còn hiệu lực.

Lardeyret và Quade đã đề cập đến một số vấn đề có thể làm cơ sở cho cách giải thích khác: các điểm đặc thù của nhóm nước Bắc Âu, lợi thế của việc sở hữu một chế độ quân chủ lập hiến, các sự khác biệt giữa hệ thống PR trung tính và cực đoan, và lợi thế từ chiếc ô quân sự của Hoa Kỳ. Tất cả những vấn đề đều có thể được kiểm tra bằng thực nghiệm. Ở đây, Lardeyret tuyên bố rằng tỷ lệ thất nghiệp ở các nước Bắc Âu đã bị đánh giá thấp vì “nhóm công việc được bảo hộ cao” và tình trạng bất bình đẳng thu nhập là khiêm tốn vì một nét đặc thù là phe bảo thủ luôn tìm cách tạo xung lực ở các quốc gia này. Để xác nhận xem liệu các yếu tố này có thể thay đổi phát hiện của tôi hay không, chúng ta có thể kiểm tra một cách dễ dàng bằng cách tạm thời loại trừ các nước Bắc Âu khỏi chuỗi phân tích, và so sánh các nước dân chủ nghị viện với hệ thống bầu cử PR không thuộc nhóm nước Bắc Âu với nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở các nước Bắc Âu thực sự thấp hơn so với các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu – 2,7 phần trăm so với 5,7 phần trăm – nhưng tỷ lệ 5,7 phần trăm này vẫn tốt hơn một chút so với tỷ lệ thất nghiệp 6,1 phần trăm ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối. Xét trong giả định sự bất bình đẳng thu nhập là có liên quan, thì ở đây hầu như không có sự khác biệt giữa các nước Bắc Âu và các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu nhưng đều theo thể chế dân chủ nghị viện và sử dụng hình thức đầu phiếu đại diện tỷ lệ – 39,0 phần trăm so với 38,9 phần trăm – và tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập tương ứng của cả hai nhóm nước này đều thấp hơn con số 42,9 phần trăm – tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập trong các thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối.

Khi chúng ta so sánh chế độ quân chủ với chế độ cộng hòa, trọng điểm đầu tiên cần phải được lưu ý là: nếu hình thái thể chế quân chủ lập hiến là một lợi thế, thì tất cả các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối đều được hưởng lợi thế này, trong khi chỉ có khoảng một nửa các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ hưởng lợi như vậy. Trọng điểm thứ hai là: khi chúng ta so sánh các nước quân chủ (Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch) với các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR (Đức, Ý, Áo và Phần Lan), tốc độ tăng trưởng của họ hầu như giống nhau và tỷ lệ lạm phát của họ cũng giống hệt nhau. Chỉ có tỷ lệ thất nghiệp thì khác biệt đôi chút: nhóm các nước theo thể chế quân chủ có tỷ lệ thất nghiệp trung bình 4,0 phần trăm, thấp hơn so với con số 4,9 phần trăm ở nhóm các nước không theo thể chế quân chủ; như vậy, một lần nữa, tỷ lệ phần trăm sau vẫn còn tốt hơn so với mức trung bình 6,1 phần trăm ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối. Đối với tiêu chí về khả năng đại diện và bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số, có sự khác biệt nhỏ giữa nhóm các nước quân chủ và phi quân chủ, nhưng cả hai nhóm này đều cho thấy tình hình tốt hơn các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối[1].

Liệu gót chân Achilles trong chuỗi phân tích về ưu thế của các nước sử dụng hình thức bầu cử PR có bị vạch trần khi chúng tôi tập trung vào nhóm nước PR cực đoan (Ý, Hà Lan, Đan Mạch và Phần Lan) và đối chiếu chúng với các nước PR trung tính hơn (Đức, Thụy Điển, Na Uy, Bỉ và Áo)? Ở đây, các bằng chứng thực nghiệm đã bác bỏ luận điểm này. Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp trong nhóm nước PR cực đoan quả thực cao hơn so với nhóm nước PR trung tính (7,4 phần trăm và 5,5 phần trăm so với 5,4 phần trăm và 3,6 phần trăm) nhưng vẫn thấp hơn một chút so với mức 7,5 phần trăm và 6,1 phần trăm trong nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối; còn tốc độ tăng trưởng của các nước này hầu như giống hệt nhau. Trên bốn tiêu chí về khả năng đại diện và chất lượng của nền dân chủ, sự khác biệt cũng tương đối nhỏ, và cả hai nhóm nước PR vẫn dẫn trước nhóm nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối. Niềm tin của riêng của tôi thì vẫn dành cho nhóm nước PR trung tính, nhưng đừng phóng đại sự nguy hiểm của nhóm nước PR cực đoan.

Như Quade đã chỉ ra rất chính xác, các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR đã có lợi thế được phát triển dưới “sự bảo trợ từ chiếc ô quân sự của Hoa Kỳ”, nhưng vậy thì đừng quên rằng có bốn quốc gia theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối cũng đứng dưới bóng của chiếc ô ấy. Thực tế là chỉ có một số trường hợp ngoại lệ nhỏ trong nhóm các nước PR: quan điểm trung lập nhưng vẫn đầu tư vũ trang của Thụy Điển càng tạo ra thêm những chi phí quân sự nặng nề, và Phần Lan thì phải chịu đựng những áp lực ở ngay đường biên giới giữa thế giới phương Tây và Liên bang Soviet. Tuy nhiên, về tổng thể, chính sách bảo hộ quân sự của nước Mỹ đã đem lại lợi ích tương đương nhau cho cả 13 nước theo thể chế dân chủ nghị viện, và do đó không thể giải thích sự khác biệt nào trong tương quan hồ sơ của các nước này.

Những tiêu chuẩn và khả năng phân loại khác
Một phần nhằm bổ sung cho lý thuyết, và một phần nhằm thay thế nhóm biện pháp tôi sử dụng để đánh giá hiệu lực của các mô hình dân chủ khác nhau, Lardeyret và Quade cho rằng các mô hình dân chủ cần phải được đánh giá bởi các tiêu chí như tính trách nhiệm, sự ổn định của chính phủ, khả năng ra quyết định, và khả năng tránh “hiện tượng bầu cử lặp lại”. Thực ra, có một số bất trắc trong các đề xuất này. Đầu tiên, quả thực vấn đề trách nhiệm chắc chắn là một phẩm chất quan trọng của chính phủ dân chủ, nhưng phẩm chất này lại không thể được đo lường một cách khách quan. Thứ hai, thực tế cho thấy hình thái chính phủ liên minh không hề tỏ ra thiếu trách nhiệm hay thiếu minh bạch hơn hình thái chính phủ một đảng cầm quyền. Cách Quade mô tả liên minh cầm quyền như một chính phủ “được hợp thành từ những mảnh vụn sau một quá trình bầu cử mờ ám hợp thời vận hành bởi những cuộc thương lượng ngầm” có thể đúng cho một số rất ít trường hợp ngoại lệ như Israel (không chỉ thuộc nhóm nước PR cực đoan mà còn sở hữu những cử tri chia rẽ và phân cực), nhưng đối với hầu hết các nước sử dụng hình thức bầu cử PR thì nhận định này là một sự phóng đại đến nực cười. Trong thực tế, một khi chính phủ liên minh được hình thành, cấu trúc này có xu hướng hoạt động ổn định, và thậm chí còn ít bí mật và tỏ ra cởi mở hơn so với hình thái thể chế một đảng cầm quyền.

Thứ ba, sự ổn định của chính phủ có thể được đo bằng thời gian hoạt động trung bình của nội các. Trên cơ sở các số liệu thu thập được trước đó, chuỗi tính toán của tôi cho thấy quãng thời gian hoạt động trung bình ở các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối thực tế còn nhiều hơn gấp đôi quãng thời gian tương ứng ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR[2]. Theo như Lardeyret giả định, thời gian tại vị dài hơn có nghĩa quyết định của chính phủ sẽ càng có trọng lượng hơn vì thời gian hoạt động lâu dài của nội các. Nhưng khi một chính phủ liên minh thay đổi họ thì họ thường không thay đổi triệt để như chính phủ của các thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR. Chính Lardeyret đã thừa nhận điều này khi ông than phiền về “nhiệm kỳ dài một cách bất thường của các chính trị gia quan trọng vì quyền lợi của nhóm lợi ích” ở những quốc gia PR. Thứ tư, nếu luận điểm của Lardeyret đúng về ưu thế trong khả năng ra quyết định của chính phủ các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, thì bằng chứng thuyết phục duy nhất cho ý tưởng này là quyết định của chính phủ các nước này thường dẫn đến chính sách hiệu quả hơn. Ở đây, chính vấn đề này đưa chúng ta trở lại với tiêu chí đánh giá hiệu lực của chính phủ dựa trên khả năng xây dựng thành công các chính sách kinh tế vĩ mô và khả năng duy trì được trật tự công. Như tất cả chúng ta có thể thấy, bằng chứng vững chắc nhất này lại không hiện diện ở bất kỳ quốc gia nào theo thể chế dân chủ nghị viện và sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối.

Cách Lardeyret phê phán về mức độ bầu cử lặp lại không cần thiết xảy ra thường xuyên trong nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR còn đề ra một biện pháp bổ sung hữu dụng nữa để xác định hiệu lực của nền dân chủ – đáng mừng thay là phương pháp này có thể được đo lường và thử nghiệm dễ dàng. Trong giai đoạn kéo dài 29 năm, từ năm 1960 đến năm 1988, cùng thời gian mà hai trong số ba chỉ báo kinh tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được xác lập, các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối đã tổ chức trung bình 10,0 lần bầu cử hợp lệ ở cấp quốc gia, so với mức trung bình 8,8 lần bầu cử ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR[3]. Rõ ràng, tần số các cuộc bầu cử ở các nước PR thấp hơn các nước sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối, một sự thực trái với khẳng định Lardeyret, mặc dù sự khác biệt ở đây cũng không đáng kể. Tuy nhiên, về căn bản, vẫn là giả thuyết của Lardeyret đã bị bác bỏ hoàn toàn bởi thử nghiệm đơn giản này.

Lardeyret và Quade chỉ có một vài bất đồng với tôi về phép đo. Một truy vấn mà Lardeyret đã đề xuất hướng đến lượng cử tri đi bầu: lượng cử tri tham dự bỏ phiếu ở Hoa Kỳ sẽ cao hơn đáng kể nếu tính theo tỷ lệ cử tri đã đăng ký. Ông ấy đã hoàn toàn đúng về điểm này, nhưng tất cả các con số về lượng cử tri tôi sử dụng là số tỷ lệ phần trăm của người bỏ phiếu – nghĩa là tất cả các nước đều được đối chiếu một cách bình đẳng. Hơn nữa, nếu con số cử tri đi bầu được sử dụng như một thước đo cho chất lượng của nền dân chủ, thì chính số liệu thấp ở Hoa Kỳ không chỉ phản ánh một mức độ cao bất thường của sự thờ ơ chính trị, mà cả “thực tế” là chính phủ đã cố tình hạn chế người dân sử dụng quyền biểu quyết bằng cách tạo ra thủ tục đăng ký phiền hà.

Còn Quade thì hoài nghi biểu thức của tôi về “số lượng phụ nữ làm việc trong cơ quan lập pháp và khả năng đại diện cho nguyện vọng của nữ giới.” Nhưng tôi không hề đánh đồng hai khái niệm này: Tôi đã sử dụng một phép đo riêng (tính đổi mới và tính bao quát trong chính sách gia đình, vốn là những mối quan tâm đặc biệt của người phụ nữ) để kiểm tra xem phải chăng lợi ích của nữ giới đã được đảm bảo tốt hơn trong nhóm các nước PR, và thực nghiệm cho thấy đúng là như vậy.

Cuối cùng, Lardeyret truy vấn về việc tôi đã sử dụng bảng xếp hạng chất lượng nền dân chủ của Robert Dahl, bởi tính chất thiên vị hình thức bầu cử PR của công cụ này. Tôi đã thừa nhận lý thuyết này có phần thiên vị ngay trong bài viết ban đầu của tôi, nhưng tôi vẫn quyết định sử dụng bảng xếp hạng Dahl vì đây vẫn là công cụ xếp hạng tổng thể được xây dựng cẩn thận nhất mà chúng ta có sẵn. Tuy nhiên, cũng vì hệ quy chiếu này rõ ràng thiếu khách quan hơn so với các tiêu chí khác của tôi, tôi sẽ không nhấn mạnh vào việc sử dụng công cụ này làm bằng chứng.

Quade đã chỉ trích cách tôi phán xét theo hướng có lợi cho mô hình nhà nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR bằng cách trình bày một số ví dụ cho thấy PR đã hoạt động sai cách, đặc biệt là hai trường hợp thường được xem là thất bại kinh điển của nền dân chủ: nền Cộng hòa Weimar và nền Đệ tứ Cộng hòa của Pháp. Không ai có thể phủ nhận thất bại của nền Cộng hòa Weimar, nhưng thực chất, hình thức bầu cử PR không phải là yếu tố phải chịu trách nhiệm trung tâm cho sự sụp đổ của nền cộng hòa này, và hệ thống đầu phiếu đa số tương đối cũng phải là công cụ có thể cứu vãn nền Cộng hòa Weimar. Hơn nữa, bản thân Cộng hòa Weimar là một chế độ bán tổng thống chứ không phải là một chế độ nghị viện. Còn ở Pháp, nền Đệ tứ Cộng hòa thực sự đã không làm tròn trách nhiệm, nhưng một lập luận hợp lý sẽ chỉ ra rằng chỉ cần những cải cách tương đối nhỏ trong khuôn khổ nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đại diện tỷ lệ đã có giải quyết vấn đề, và giải pháp thay đổi triệt chế độ nghị viện sang chế độ bán tổng thống, cũng như chuyển từ hình thức bầu cử PR sang hình thức bầu cử đa số tương đối hoàn toàn không cần thiết. Vả lại, ví dụ cho những thất bại của hệ thống PR thực chất không hề vượt trội so với những ví dụ về sự thất bại của hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, điển hình là thất bại của nền dân chủ ở Tây Phi. Sir Arthur Lewis, người từng là cố vấn kinh tế cho chính phủ ở đây, đã phải thừa nhận rằng “con đường chắc chắn nhất để thủ tiêu các ý tưởng dân chủ” trong những xã hội bị chia rẽ như vậy “là lựa chọn du nhập hoàn toàn hệ thống bầu cử kiểu Mỹ Ănglê, nghĩa là kiểu bầu cử kẻ – chiến – thắng – có – tất – cả [chính là nguyên tắc của hệ thống đầu phiếu đa số tương đối]”[4].

Lardeyret đã không đặt ra nghi vấn về cách tôi tập trung vào nhóm các nước dân chủ ổn định đương đại, nhưng thay vào đó lại lập luận cho trường hợp của các quốc gia cần được phân loại riêng. Mặc dù nền chính trị ở Pháp không hẳn là chế độ tổng thống, cũng không hoàn toàn sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối, tôi vẫn đồng ý với đề xuất của ông ấy rằng: về cả hai phương diện, quốc gia này đã đủ tiêu chuẩn để được xếp loại cùng cấp với Hoa Kỳ. Tôi cũng đồng ý rằng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thuộc nhóm nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ,  nhưng dữ liệu khả dĩ so sánh vẫn rất thiếu, bởi hai nước này vẫn chưa hoàn toàn dân chủ trong giai đoạn mà những bằng chứng thực nghiệm của tôi có thể khái quát hết. Nhưng tôi không đồng ý với luận điểm cho rằng nước Đức không thuộc nhóm các nước sử dụng hình thức bầu cử PR, và cần được phân loại như một nước trong hệ thống sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối; quốc gia này đã gần như là hoàn toàn sử dụng hệ thống PR, bởi các ghế trong Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag) được phân bổ đầy đủ cho các đảng phái, mặc dù giới hạn 5,0 phần trăm số ghế khiến nước Đức dừng lại ở mức một quốc gia PR trung tính.
Nhưng kể cả khi chúng ta xem nước Đức là một quốc gia sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối; thì lý luận của tôi vẫn đứng vững. Giả thuyết phản biện của Lardeyret cho rằng: trong “thứ tự cấp bậc xét theo tiêu chuẩn của tính hiệu lực và tính dân chủ”, hai kiểu chế độ kết nối với hệ thống đầu phiếu đa số tương đối (chế độ nghị viện và chế độ tổng thống) phải được xếp trên mô hình thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR. Tính xác thực của giả thuyết này có thể được nhận diện bằng cách so sánh bảy thể chế sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối (các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối cộng với Hoa Kỳ, Pháp, và tạm thời là nước Đức) với tám thể chế sử dụng hệ thống bầu cử PR (nghĩa là tất cả các nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR, trừ Đức). Sau khi phân loại lại, nhóm các quốc gia sử dụng hình thức bầu cử PR vẫn cho thấy biểu hiện tốt hơn trong tiêu chí về khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp trung bình: 4,6 phần trăm so với 5,5 phần trăm), và không chênh lệch nhau nhiều trong tiêu chí tốc độ tăng trưởng (3,5 phần trăm so với 3,4 phần trăm) và lạm phát (6,6 phầm trăm so với 6,5 phần trăm). Đối với tiêu chí về khả năng đại diện cho nguyện vọng các nhóm thiểu số và khả năng bảo vệ chất lượng của nền dân chủ, các quốc gia PR vẫn đang dẫn trước các quốc gia sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối: 17,5 phần trăm so với 4,5 phần trăm, xét về tỷ lệ nữ giới trong quốc hội; 8,0 phần trăm so với 4,4 phần trăm, xét về tỷ lệ chính sách gia đình; 84,5 phần trăm so với 73,5 phần trăm, xét về về lượng cử tri đi bầu; 38,9 phần trăm so với 41,9 phần trăm, xét về tỷ lệ giữa thu nhập của 20 phần trăm gia đình giàu có nhất đối với tổng thu nhập của tất cả các gia đình. Như vậy, các bằng chứng thực nghiệm đều bác bỏ giả thuyết phản biện của Lardeyret.

Lựa chọn và thay đổi
Ưu thế khả kiến của chế độ đại nghị và hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ dường như đang được đánh giá cao bởi cả công dân và chính trị gia từ các nước dân chủ. Có một xu hướng bất mãn trước cách vận hành của chế độ tổng thống đang lan rộng, cũng như sự hỗ trợ khá lớn dành cho những tiến trình chuyển đổi hướng đến hình thức chính phủ nghị viện, nếu không phải ở hầu hết thì cũng ở phần lớn các nước dân chủ theo chế độ tổng thống; còn xu hướng trái ngược thì hầu như không hiện diện ở bất kỳ nền dân chủ nghị viện nào. Tương tự như vậy, ở hầu hết các nước dân chủ vẫn sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, người ta cũng bất mãn về cách vận hành của hình thức bầu cử này và ấp ủ khát khao cho tiến trình chuyển đổi hướng đến hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ, nhưng xu hướng ngược lại thì rất hiếm gặp ở các nước dân chủ đã sử dụng hình thức bầu cử PR. Một lý do quan trọng dẫn đến những chuyển động tinh thần như vậy là tính chất gây chia rẽ, kẻ – chiến – thắng – có – tất – cả của hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, cũng như của chế độ tổng thống đã được biết đến rộng rãi. Trong giai đoạn chuyển mình giữa hai thế kỷ, các nền dân chủ non trẻ phải đối mặt với tình trạng phân chia giai sắc tộc hay những mâu thuẫn sâu sắc khác đã nhiều lần tìm đến hình thức bầu cử PR để đạt được những khác biệt như vậy. Do đó, lời khuyên lựa chọn hình thức bầu cử đa số tương đối của Lardeyret dành cho nhà nước Nam Phi, cũng như những quốc gia và vùng lãnh thổ khác vẫn đang phải đối mặt với mâu thuẫn trầm trọng, thực sự tạo ra nguy hiểm tiềm tàng.

Một lý do quan trọng khác dẫn đến tiếng thơm của hình thức bầu cử PR là cảm giác của những người dân cho rằng kết quả của những cuộc bầu cử thiên lệch vốn đã không công bằng và phi dân chủ. Không có một đảng cầm quyền nào ở nước Anh sau Đệ nhị Thế chiến được chấp nhận bởi đa số cử tri; tất cả các phe phái này đã đạt được sức mạnh để tiếp tục nắm quyền bất chấp thực tế là hầu hết các cử tri đã bỏ phiếu chống lại họ. Quan điểm của cả Lardeyret và ​​Quade khẳng định rằng tính chất thiếu cân xứng trong quá trình bầu cử vốn không quan trọng chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi bởi giới trí thức dân chủ. Một bài xã luận gần đây trên tờ Economist đã xác nhận rằng: “bởi vì nhận thức về sự công bằng là ngọn lửa thử vàng cho mỗi nền dân chủ – là nền tảng của mọi nền tảng cho tính hợp pháp của thể chế dân chủ – nên những cuộc tranh luận về bóng dáng của sự bất công đứng trên tất cả mọi lý luận khác.”

Những quá trình thay đổi tận gốc hiến pháp luôn rất khó được thực hiện và vì vậy nên rất hiếm khi xuất hiện, nhưng những diễn trình đầy xung năng thể hiện những quan điểm dân chủ phổ biến với nguyện vọng chuyển từ hình thức bầu cử đa số tương đối sang hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ thì luôn xuất hiện nhiều hơn những kịch bản khác trong thế giới dân chủ. Lý do dẫn đến hiện tượng này không phải như Lardeyret đã minh họa: “khi một thể chế đã dính vào PR, việc thoát ra là gần như bất khả, bởi vì nỗ lực như vậy đòi hỏi các phe phái độc lập phải hợp tác để giải quyết những mâu thuẫn riêng.” Ngược lại, đây mới là lý do khiến các đảng phái mạnh được hưởng lợi từ hệ thống đầu phiếu đa số tương đối sẽ cố gắng duy trì hệ thống này cho bằng được. Còn với hệ thống PR, tất cả các đảng phái lớn thường nắm giữ đủ lá phiếu để chuyển sang một hệ thống khác nếu lựa chọn ấy phục vụ quyền lợi của họ, đặc biệt là bởi vì, như Lardeyret đã chỉ ra một cách chính xác, nguyên tắc của hệ thống bầu cử “thường bị bỏ qua trong hầu hết các hiến pháp”. Việc các đảng phái trong hệ thống bầu cử PR hiếm khi cố gắng thay đổi cách thức bầu cử không thể được lý giải bởi quan điểm hẹp hòi về tính tư lợi; chính cảm giác cho rằng việc loại bỏ hình thức bầu cử PR là hành vi phi dân chủ và còn gây nguy hiểm mới đóng vai trò quan trọng ở đây. Tựu trung, cả bằng chứng thực nghiệm và chiều sâu của những luồng tư tưởng ​​trong các nền dân chủ hiện hành đã tạo nên dòng chảy mạnh mẽ khẳng định tính ưu việt của hình thức bầu cử PR, cũng như của nền dân chủ nghị viện, đấy cũng là những lựa chọn thỏa đáng nhất cho những quốc gia dân chủ non trẻ.


[1] Tựu trung, ưu thế của các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối trong luận điểm của hai học giả phê phán Lijphart thực chất đến từ ưu thế của mô hình nhà nước quân chủ lập hiến, chứ không phải ưu thế tự thân của hình thái thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối. Còn với các nước phi quân chủ nhưng sử dụng hình thức đầu phiếu đại diện tỷ lệ thì chính họ đã có ưu thế này, và số liệu cho thấy chất lượng nền dân chủ của họ không thua bao nhiêu so với các nước quân chủ lập hiến. (Chú thích của người dịch)
[2] Một nội các được xem như không đổi nếu cơ cấu đảng phái của nó không thay đổi; tựa trên cơ sở của định nghĩa này và xem xét giai đoạn 1945-1980, chúng ta sẽ thấy thời gian hoạt động trung bình của nội các ở bốn quốc gia dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối là 88 tháng, còn ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử PR là 44 tháng. (Nguồn: Arend Lijphart, Democracies: Patterns of Majoritarian and Consensus Government in Twenty-One Countries (New Haven: Yale University Press, 1984)) (Chú thích của tác giả)
[3] Ngày tháng diễn ra các cuộc bầu cử quốc hội ở 13 quốc gia này có thể được tìm thấy trong các chương tương ứng với danh sách quốc gia của công trình: Thomas T. Mackie and Richard Rose, The International Almanac of Electoral History, 3rd ed. (London: Macmillan, 1991). (Chú thích của tác giả)
[4] Nguồn: W. Arthur Lewis, Politics in West Africa (London: Allen and Unwin, 1965). (Chú thích của tác giả)

[Dịch xong] Chương 1 - Vỡ lòng cho những người quyết định



1 - Sách vỡ lòng cho những người phải đưa ra quyết định

Donald L. Horowitz

Donald L. Horowitz là giáo sư xuất sắc*(Jame B. Duke Professor) ngành Luật học và Chính trị học tại Đại học Duke, đồng thời là tác giả (cuốn sách mới đây nhất của ông là The Deadly Ethnic Riot – 2001). Tiểu luận sau đây dựa trên một bài luận được viết cho nhóm nghiên cứu bầu cử tại IKMAS – Institute for Malaysian and International Studies – tại Đại học Kebangsaan, Malaysia. Tiểu luận này được đăng lần đầu tiên vào tháng mười năm 2003 trên Tạp chí Dân chủ.

Để đánh giá một hệ thống bầu cử hoặc để chọn một hệ thống bầu cử mới thì điều thiết yếu trước nhất là đặt vấn đề xem các cử tri muốn hệ thống bầu cử làm gì. Không một hệ thống bầu cử nào có thể dễ dàng phản ánh được sự ưu tiên của cử tri hoặc mô hình hiện hành của sự phân hóa xã hội hay kiểu hình đảng chính trị thịnh hành. Mọi hệ thống bầu cử đều định hình và tái định hình những nét đặc trưng đó của môi trường, và mỗi hệ thống bầu cử lại có các cách khác nhau để làm những điều đó. Ở đây, tôi muốn trình bày một vài mục đích khả thi của các hệ thống bầu cử có thể tìm thấy trong các tài liệu về bộ môn này và sau đó đưa ra những quan sát về những mục đích đó và các hệ thống bầu cử lý tưởng hơn nữa.

Tuy nhiên trước tiên, tôi cần nhấn mạnh một điểm về một giả định thông thường – rằng hệ thống bầu cử tốt nhất là hệ thống phản ánh chính xác và trung thực những sự ưu tiên của các cử tri. Bản chất của một hệ thống bầu cử là để tập hợp những sự ưu tiên và chuyển các ưu tiên đó thành kết quả bầu cử, và không hệ thống nào có thể làm điều đó giống như một sự truyền đạt những ước muốn cá nhân thành một lựa chọn của tập thể. Hơn nữa, mọi hệ thống bầu cử đều có những xu hướng được tích hợp sẵn trong cơ chế đưa ra quyết định của nó, và sau đó thì những điều này phản hồi trở lại cấu trúc của choices confronting voters, constraining and changing choices* mà chúng có thể tạo ra dưới các hệ thống khác. Do đó, không chỉ là sự phản ánh không hoàn hảo về những sự ưu tiên của cử tri trong trường hợp đầu tiên, mà những sự ưu tiên của cử tri còn tự chúng bị định hình bởi hệ thống bầu cử. Những ưu tiên không hề và không thể tồn tại độc lập với nó* with it.

Thực tế thì mỗi hệ thống bầu cử bao gồm một tập hợp những xu hướng khác nhau từ mọi hệ thống bầu cử khác means that those who deice among such systems can choose, in effect, to prefer one set of biases over another*. Và việc ưu tiên one over another* đó chính là việc đưa ra một lựa chọn chính sách. Do đó một người có thể nói về những mục tiêu của hệ thống, mặc dù sự lựa chọn xu hướng luôn luôn không được đưa ra một cách có chủ ý. It follows from this* rằng có nhiều mục tiêu tiềm năng của sự lựa chọn hệ thống bầu cử cũng như có nhiều sự kết hợp các xu hướng và các hệ thống. Vì vậy, bất cứ bảng liệt kê danh sách các mục tiêu nào thì đều là một hàm số của các mục tiêu mà những người sống trong một given society* muốn đạt được và muốn ngăn ngừa, when matched against the propensity* của những hệ thống bầu cử cụ thể để đưa ra những kết quả theo một phương hướng này hoặc theo một phương hướng khác. Nói cách khác, nhiều danh sách các mục tiêu có thể được thảo ra, và tất cả các danh sách đó đều có một yếu tố chuyên quyền, độc đoán to them*.

Một cảnh báo sơ bộ sau cùng nữa. Khi chúng ta nói về những mục tiêu để giành được, chúng ta nên dẹp bỏ ảo tưởng rằng hệ thống bầu cử có thể tự nó đạt được cách mục tiêu đó. Các hệ thống bầu cử định hình và chế ngự hành vi của các chính khách và các cử tri, nhưng chúng chỉ là một phần nhỏ của những tác động gây ảnh hưởng đến toàn bộ các hành vi, kể cả hành vi chính trị. Điều kỳ diệu không đến từ những thay đổi của các hệ thống bầu cử. Đừng ai kỳ vọng nhiều hơn về những thay đổi lớn hơn trong các khuông mẫu hành vi, một khi cấu trúc của các động cơ bầu cửu*electoral incentives được thay đổi. Nhưng đôi khi thì increments of change* có thể là đặc biệt quan trọng.

Sáu mục tiêu   

Sáu mục tiêu của một hệ thống bầu cử đều đã có sẵn trong ý thức của chúng ta. Một vài trong số đó tương thích nhau, nhưng một số khác lại xung khắc nhau, và đó chính là lý do mà việc làm rõ xem mục tiêu nào được ưu tiên chọn lựa là vấn đề rất quan trọng. (Tất nhiên, sự lựa chọn còn phải phù hợp với những đặc tính có sẵn của môi trường chính trị, từ đó hoạt động của các hệ thống bầu cử biến đổi theo bối cảnh.) Đây là sáu mục tiêu có thể có: 1) sự cân đối số ghế với số lá phiếu; 2) trách nhiệm giải trình với cử tri; 3) chính phủ ổn định; 4) thắng lợi dành cho Condorcet winner*; 5) hòa giải giữa các sắc tộc, các tôn giáo; và 6) minority officeholding*. Tôi sẽ lần lượt luận bàn về từng mục tiêu này.

1. Sự cân đối số ghế với số lá phiếu. Các học giả và những người quyết định ngày càng có chiều hướng đánh giá các hệ thống bầu cử bằng kiến thức chuyên môn của họ (hoặc cả những kiến thức không thuộc chuyên môn) để đưa ra những kết quả có tỷ lệ đúng. Một đảng chính trị giành được 20% trong toàn bộ phiếu bầu thì nên có được 20% số ghế trong quốc hội, như vậy thì đúng hơn là họ chỉ có ít hơn hoặc không có ghế nào, kết quả này có thể có được nếu việc bầu cử được tổ chức trên một nền tảng (tập thể cử tri của) đơn vị bầu cử và its support is thinly spread rather than regionally concentrated*. Theo quan điểm này, một đảng phái với 50% số phiếu bầu sẽ chỉ giành được 50% số ghế chứ không phải là 60 hoặc 65% như dưới một hệ thống bầu cử thường cung cấp một cách cẩu thả thêm một số ghế cho đảng phái lớn nhất.

Có một vài cách để có được nhiều hơn hoặc ít hơn những kết quả có tỷ lệ đúng, bao gồm list-system proportional representation* (hoặc PR, với hai biến thể chính là national lists and constituency lists*) và the single transferable vote (STV)*. Một vài hệ thống có thể kết hợp với những mục đích khác bên cạnh tính cân xứng tỷ lệ, một cách đặc biệt nếu được kết hợp với các hệ thống khác trong một hybrid electoral arrangement*, nhưng PR thường không thân thiện với một vài mục tiêu khác của lựa chọn hệ thống bầu cử, như tôi sẽ nhắc đến sau này. Sự công bằng của kết quả, theo quan điểm về cân đối số ghế với số phiếu, là điều duy nhất giữa các mục tiêu, và điều đó có thể không phải là mục tiêu quan trọng nhất. Vì dễ dàng đo lường được, tuy nhiên, tính cân xứng tỷ lệ có khuynh hướng cản trở các mục tiêu khác. Luận bàn về tính cân xứng tỷ lệ chẳng bao giờ nên được be held in a vacuum*.

Độ sai lệch từ tính cân xứng tỷ lệ có thể được giới hạn trong một hệ thống non-PR nếu chú tâm đến một vài khởi nguồn của những kết quả không cân xứng tỷ lệ không xuất phát từ hệ thống bầu cử. Giữa những khởi nguồn đó, sự thiếu công bằng trong tỷ lệ phân bố các đại biểu của đơn vị bầu cử (so that it takes two or three times as many voters to elect one representative as it does to elect another)* là một nguyên nhân nghiêm trọng cho những kết quả không cân xứng tỷ lệ. Like-wise*, trong các hệ thống PR, những kết quả không cân xứng tỷ lệ thiên vị cho đảng phái lớn có thể được tạo ra nếu competing lists are run in multimember constituencies, each of which elects a small number of legislators*.

2. Trách nhiệm giải trình với cử tri. Việc bầu cử những người đại diện đòi hỏi một vài mức độ trong giải trình của những nhà lập pháp với những người đã bầu cho họ. Ý nghĩ thông thường cho rằng các hệ thống bầu cử giới hạn quyền lực của những lãnh đạo đảng phái lớn để chọn lựa những ứng cử viên produce more responsive representatives*. National list-system PR* thường dựa trên cơ sở là quyền lực lớn của các nhà lãnh đạo đảng phái chính để quyết định những ứng cử viên nào sẽ có vị trí triển vọng trong danh sách của đảng phái và nhờ đó sẽ có cơ hội tốt hơn để được bầu chọn. Khi các lãnh đạo các đảng chính có nhiều quyền lực hơn, quyền lực tối thượng của người bầu cử trong việc chọn lựa các ứng viên bị cho là khiếm khuyết, hơn là chỉ đơn giản là chọn lựa giữa các ứng cử viên.

Về điểm này, các hệ thống dựa trên đơn vị bầu cử* constituency-based systems, ví dụ như first-past-the-post or even constituency-list PR* (với những đơn vị bầu cử nhỏ của chỉ ba hoặc bốn ghế trong quốc hội), được cho là thích hợp hơn. Nhưng có những cách khác để làm dịu bớt sự thống trị của the process by central party leaders under list PR*. Một cách là cho phép cử tri thay đổi thứ tự của các ứng cử viên trên danh sách, bằng việc bầu cử for candidate 6 over candidate 3 on the list*, chẳng hạn. Phương án này được gọi là open-list PR*, nhưng nó có thể có một vài hệ quả éo le, đặc biệt là trong những xã hội đa sắc tộc.

3) Chính phủ ổn định. Hiển nhiên, một hệ thống bầu cử không thể phản ánh hết toàn bộ các ý kiến riêng của mọi cử tri. Tuy vậy, một vài hệ thống khiến điều đó trở nên khả thi giúp các sắc thái khác nhau của quan điểm của dư luận được bày tỏ, đôi khi quá mức khiến cơ quan lập pháp trở nên bị phân chia rời rạc, khi mà chẳng đảng phái nào có được gần 50% số ghế. Dĩ nhiên, trong những trường hợp đó thì lập liên minh là điều cần thiết. Một khi cơ quan lập pháp bị phân chia một cách sâu sắc thì có thể sẽ rất khó để đạt được những liên minh lâu bền. Những hệ thống bầu cử khác có thể khiến các đảng phái kết hợp lại những quan điểm đa dạng trong một xã hội để mục đích của việc bầu cử được thành công. Khi điều này xảy ra và những quan điểm đa dạng được bày tỏ within parties rather than across parties*, sự giảm bớt số lượng các đảng khiến một chính phủ ổn định có thể được thiết lập, điều này có vẻ thích hợp. Và những chính phủ ổn định thì được cho là thích hợp và thỏa đáng vì chúng đẩy mạnh chính sách kiên định và có trách nhiệm và, quan trọng hơn nữa, có thể tránh những bất ổn có thể gây hậu quả trong thời kỳ chuyển tiếp hoặc từ the creation* của những liên minh lỏng lẻo và khó lường. 

4) Thắng lợi dành cho ứng viên Condorcet*. Ứng viên Condorcet là ứng viên nhận được đa số phiếu trong một cuộc tranh luận theo cặp hoặc đối đầu* paired or head-to-head với nhau và với mọi ứng viên khác. Ứng viên Condorcet rõ ràng là ứng viên được nhiều người ưa thích và chiến thắng của họ thì được cho rằng nên được ưu tiên hơn. Nhưng có những trở ngại với kết quả này. Từ khi có nhiều hơn hai ứng cử viên, một vài hệ thống có thể cho ra các kết quả phản đối ứng viên Condorcet. Đôi khi first-past-the-post* làm điều này. Chẳng hạn như, trong một cuộc tranh luận tay ba và các ứng viên nhận được số bầu chọn là: X, 45%; Y, 40%; Z, 15%. Under fisrt-past-the-post*, ứng viên X sẽ chiến thắng. Nhưng nếu ứng viên Y tranh luận mặt đối mặt với chỉ riêng ứng viên X, ứng viên Y có thể là ứng viên được ưa thích hơn bởi đa số cử tri; và ứng viên Y còn có thể đánh bại ứng viên Z trong một pair contest*. Đôi khi, các hệ thống bầu cử có thể không tán thành ứng viên Condorcet có thể được cho là những hệ thống đáng mong đợi. Nhưng tất nhiên, những hệ thống đó có thể có những ưu điểm khác nữa.

Có những hệ thống làm rất tốt việc chọn ra ứng viên Condorcet. Cả bầu cử thay thế và quy tắc Coombs (sẽ được luận bàn sau đây) đều tốt để khơi gợi second preferences that are suppressed by first-past-the-post systems*. Nhưng cả hai đều có những yếu điểm khác. Một lần nữa, với các hệ thống bầu cử, vấn đề làm sao để biết được mong muốn và sự lựa chọn của các cử tri giữa các sự lựa chọn thay thế - luôn có vài đặc điểm phiền phức - luôn được đặt ra.

5. Hòa giải giữa các sắc tộc, các tôn giáo. Những hệ thống bầu cử cho ra kết quả có tỷ lệ tương xứng hoặc có trách nhiệm giải trình với cử tri hoặc chính phủ ổn định thì có thể có hoặc không thúc đẩy hòa giải các sắc tộc. Một cách nghĩ về hệ thống bầu cử và hòa giải sắc tộc là đặt vấn đề xem liệu rằng hệ thống đã cho có cung cấp cho các chính trị gia tiền đút lót bầu cử cho hành vi ôn hòa, đó là, để thỏa hiệp với các thành viên của các nhóm dân tộc khác cho mục tiêu thành côn của bầu cử. Một vài hệ thống có thể làm điều đó. Một hệ thống bầu cử ban đầu được phát minh ở Lebanon – với các ghế dành trước riêng cho các sắc tộc, các đơn vị bầu-cử-nhiều-ghế, và common-roll elections* - cho phép các chính trị gia có điều kiện tốt để hợp tác across group lines, for they cannot be elected on the votes of their own group alone*. Họ phải góp số phiếu bầu (đó là, hỗ trợ qua lại) với các ứng viên của các nhóm khác running in different reserved seats* trong cùng đơn vị bầu cử. Tương tự, các hệ thống có yêu cầu các ứng viên giành được phân bổ theo địa phương của các lá phiếu, in addition to a national plurality*, có thể thúc đẩy hành vi hòa giải nếu khu vực/lãnh thổ là một sự ủy quyền cho tính sắc tộc vì các nhóm đều có sự tập trung mang tính vùng miền. Nigeria đã tiên phong trong phương pháp này khi bầu cử tổng thống, và hiện tại thì Indonesia cũng đi theo đường lối bỏ phiếu bầu tổng thống tương tự.

Mặt khác, các hệ thống bầu cử nào cho phép các chính trị gia được bầu mà không cần phải có cách hoạt đồng ôn hòa có thể postelectoral hòa giải khó khăn hơn. Sự hòa giải tiến hành sau bầu cử rõ ràng là để thiết lập một chính phủ với hơn 50% ghế trong quốc hội có thể chứng minh tính bất ổn khi những vấn đề bất đồng sắc tộc phát sinh. Vì vậy, để hòa giải sắc tộc, vấn đề đặt ra là các hệ thống bầu cử ảnh hưởng thế nào đến the preelectoral calculations* của các đảng và các chính trị gia.

6) Minority officeholding*. Một vài tác gia, người lập pháp, nhà họa động nhóm-sắc tộc nghĩ rằng tính cân xứng tỷ lệ cho nhóm nên là mục tiêu của các hệ thống bầu cử. Một giả định (có thể được phản biện) rằng nếu nhóm A bao gồm 10% dân số thì nhóm ấy nên chiến được 10% số thành viên lập pháp. Nhiều hệ thống bầu cử cho ra những kết quả là không đạt số thành viên của các nhóm thiểu số trong thành viên lập pháp, nếu chúng ta hiểu rằng đại diện tức là cơ cấu số người thắng cử là tương ứng với cơ cấu của các nhóm thiểu số trong dân số. In first-past-the-post elections*, ví dụ, nếu các nhóm thiểu số được phân bố sâu sắc về mặt địa lý, những ứng viên trúng cử có thể thu hút trên quy mô lớn với nhóm dân số đa số. Mục tiêu của minority officeholding* do đó có thể được nhìn nhận như một thí dụ cho hiện tượng tương tự trong thúc đẩy sự tương ứng giữa lá phiếu và ghế, trừ khi tính cân xứng tỷ lệ đó là cân xứng tỷ lệ dành cho đảng hơn là dành cho nhóm.

Ở một vài nước, nhất là ở Hoa Kỳ, những tác động quan trọng có thể được tạo ra để tăng phần cơ cấu của số nhà lập pháp ứng với nhóm thiểu số. Ở nhiều hệ thống bầu cử, the Voting rights act* được thể hiện ở yêu cầu kéo ngược lại ranh giới của đơn vị bầu cử theo hướng có tính đồng nhất lớn hơn, như vậy sẽ giúp thuận tiện hơn cho bầu cử đại diện nhóm thiểu số khi mà các nhóm thiểu số cấu thành đa số trong một khu vực bầu cử. Có những gợi ý rằng hệ thống bầu cử nên tự nó thay đổi mục đích này. Tuy nhiên, một vài người ủng hộ thiểu số có suy xét mạnh mẽ về bầu cử dồn tích*cumulative vote, một hệ thống cho phép cử tri trong một đơn vị bầu cử nhiều thành viên được dành nhiều hoặc toàn bộ lá phiếu của mình cho một ứng viên duy nhất, theo đó thì có thể tối đa hóa khả năng cho ứng viên thiểu số có thể giành thắng lợi trước những ứng viên khác được hỗ trợ rộng rãi hơn nhưng less intensely dis-tributed*, vẫn trên nền tảng dồn tích đó. Với việc cung cấp sự động viên cho những ứng viên để giành được những vị trí cao nhất nhằm nâng cao khả năng của họ để thu hút tất cả lá phiếu của a particular subset of voters*, tuy nhiên bỏ phiếu dồn tích có thể sẽ mở con đường tới nền chính trị bị phân cực.1

Như kịch bản này đã cho thấy, có thể sẽ có sự thỏa hiệp giữa những mục tiêu của nhóm officeholding và liên minh sắc tộc. Tương tự, proportionate minority officeholding* không đảm bảo rằng quyền lợi của thiểu số sẽ nhận được sự chú ý trong quy trình lập pháp. Thật ra, minority officeholding có thể đến từ the expense of minority representation in this large sense, cho sự ra đời của những đơn vị bầu cử đồng nhất hơn, tức là không chỉ là các đơn vị bầu cử sẽ được chiếm ưu thế hơn bởi nhóm thiểu số, mà còn, cor-relatively, more constituencies in which majority-group voters dominate and in which majority-group candidates* không cần bận tâm về hỗ trợ dành cho nhóm thiểu số và quyền lợi của thiểu số.2

Lựa chọn giữa các mục tiêu

Nhiều người quyết định cố gắng thiết kế hệ thống bầu cử để tối đa hóa nhiều hơn chỉ một mục tiêu. Ví dụ, Đức có một hệ thống bầu cử dựa trên các đơn vị bầu cử, nhưng với sự cân xứng tỷ lệ bao trùm, nên các nhà lập pháp có lý do để hồi đáp các cử tri của họ nhưng các đảng còn nhận một số lượng ghế overall* nhiều hơn hoặc ít hơn tỷ lệ tương ứng với số phiếu họ thắng trên toàn quốc. Xu hướng lựa chọn những hệ thống lai*hybrid systems đang gia tăng nhằm giành được đa mục tiêu, như New Zealand, Italy, và Nhật đều đã thực hiện.

Một vài hệ thống lai vận hành như hệ thống ở Đức, với nhiều cuộc tuyển cử nhưng có sự đảm bảo về tỷ lệ đại diện thích hợp trong các nhà lập pháp dựa trên sự phân bổ tổng thể của các lá phiếu, trong khi các nước khác thì tận dụng triệt để separate constituency elections and list-system PR elections*. Nhật ở dạng thứ hai. Mỗi đảng phái giành được phần tương ứng tỷ lệ của họ trong list-PR seats plus* như số ghế mà họ thắng trong những cuộc tranh luận single-member*. Bởi vì có nhiều hơn số ghế theo tỷ lệ tương ứng và sự phân chia các ghế được tiến hành độc lập, sự khuyến khích trong hệ thống của Nhật, không như Đức, tương đồng với những hệ thống first-past-the-post. Tuy nhiên, đặc tính tỷ lệ tương ứng khiến các đảng phái đơn độc khó có thể chi phối được đa số nghị viện.3

Bất chấp/mặc dù xu hướng hướng đến những hệ thống lai*, vẫn có sự tiếp nối văn hóa mạnh mẽ trong việc sắp xếp bầu cử. Ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Canada, Ấn Độ, nhiều nước châu Phi nói tiếng Anh, và Malaysia đều dùng hệ thống first-past-the-post, được đánh giá là tương tự như hệ thống thông thường ở những nước nói tiếng Anh. Tương phản với đó, các nước ở châu Âu lại ưa chuộng list PR*, và các nước châu Phi nói tiếng Pháp cũng vậy. Một vài quyết định rất nhỏ*Some very poor decisions có thể được định đoạt dựa trên nền tảng của sự tương đồng trong văn hóa. Benin, một thuộc địa của Pháp, cũng đã chọn lựa một hệ thống có chức chủ tịch giống Pháp, với một vòng bầu cử thêm nếu không có ứng viên nào nhận được đa số phiếu trong lượt bỏ phiếu đầu tiên. Với việc chọn hệ thống bầu thêm*runoff system, Benin đã chuyển một xung đột relatively benign tripolar ethnic* thành một xung đột lưỡng cực nghiêm trọng hơn nhiều. Một sự lựa chọn thận trọng, chứ không phải sự tương đồng trong văn hóa, cần được lấy làm nền tảng để quyết định chọn hệ thống bầu cử.

Khi những quốc gia từng là thuộc địa nghĩ lại về sắp xếp/cải cách bầu cử của họ, họ thường từ bỏ những hệ thống bầu cử được thừa hưởng từ trước. Có một vài bằng chứng về sự chấp nhận những hệ thống từ bên ngoài lãnh thổ hoặc văn hóa hoặc quan hệ thuộc địa, nhưng thường thì những lựa chọn của họ đều gần gũi với hệ thống của mẫu quốc. Khi những nước nói tiếng Anh, chẳng hạn như New Zealand hay Úc, chọn proportional representation*, họ không ưa thích list-system PR*. Thật ra, họ ưa chọn the single transferable vote* hơn, đôi khi được gọi là phiên bản Anglo-Saxon của PR. Và trong những trường hợp khác khi họ từ bỏ first-past-the-post, họ duy trì những hệ thống single-member consituency*, chẳng hạn như bầu cử thay thế*alternative vote (AV), phương pháp đã được sử dụng ở Úc, Papua New Guinea, và Fiji.

Những hệ thống bầu cử mới có ảnh hưởng tới sự hình thành đảng chính trị, hành vi đảng chính trị, và các hệ thống đảng phái. Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu áp dụng cấu trúc đảng phái tồn tại trước và đề án như cũ cho tương lai nếu một hệ thống bầu cử mới được chấp nhận/thông qua. Khi mixed-member proportional representation* được áp dụng ở New Zealand, việc thiết lập một chính phủ sau cuộc bầu cử đầu tiên trở nên khó khăn hơn, và một đảng cánh hữu giành quyền lực trong chính phủ liên minh, điều mà không bao giờ có thể xảy ra dưới hệ thống first-past-the-post. Khi alternative vote được áp dụng ở Fiji, hai liên minh đã sắc tộc được hình thành, chi phối hầu hết tất cả các đảng phái, và một liên minh đã giành được quyền thành lập chính phủ. Trong cả hai trường hợp, hệ thống mới đều làm thay đổi sức mạnh của các đảng tồn tại từ trước và biến đổi những mối liên kết của chúng. Mọi hệ thống mới đều có thể được kỳ vọng là có hiệu quả mạnh sánh ngang với bất cứ hệ thống nào, nhưng toàn bộ hiệu quả của một hệ thống mới chỉ có thể được đo lường sau hai hoặc ba cuộc bầu cử, khi các chính trị gia và cử tri đã thích nghi với những động cơ của nó.

Thông thường, bầu cử fisrt-past-the-post thì được cho là sẽ đẩy mạnh một hệ thống đảng với tương đối ít đảng (đôi khi chỉ có hai đảng). Ở chế độ first-past-the-post, một đảng với ít hơn 48% số phiếu bầu thì gần như được bảo đảm sẽ có được nhiều hơn 50% số ghế. (Kể cả 40% số lá phiếu cũng có thể cho đảng một cơ hội tốt để giành được đa số ghế.) Do có những ghế bonus* này, first-past-the-post có đặc tính khiến việc thành lập chính phủ dễ dàng hơn so với các hệ thống khác, và thậm chí là khiến chính phủ cũng bền vững hơn. Những ai ưa chuộng sự ổn định và ưa chuộng tính kiên định trong xây dựng chính sách thì thường ưa thích first-past-the-post. Nhưng tất nhiên, first-past-the-post không có những hiệu ứng đó ở mọi nơi. Ở Ấn Độ, Malayasia, và Canada, first-past-the-post thích hợp với các hệ thống đa đảng, vì cấu trúc phân chia trong xã hội khiến cho việc tập hợp tất cả những khuynh hướng chính vào hai hoặc ba đảng lá bất khả thi. Tuy nhiên, nhiều hệ thống cung cấp được sự khuyến khích hoặc sự kết hợp hoặc những quyền lợi khác nhau vào một số ít đảng.

List-system proportional representation*, mặt khác, được cho là tạo điều kiện thuận lợi cho đại diện của những phân tầng xã hội. Những ý kiến của thiểu số không được bày tỏ trong các hệ thống của số đông giành thắng lợi có thể được bộc lộ nếu các đảng có từ 5-10% số phiếu bầu trên toàn quốc chiếm được 5-10% số ghế quốc hội. Tuy nhiên, nơi nào có sự phân tầng xã hội phức tạp, việc áp dụng một hệ thống highly proportional list* sẽ khuyến khích tạo ra nhiều phân hóa xã hội thêm nữa hơn là sự hợp nhất của các khuynh hướng chính trị. Nếu nhiều nhóm xã hội được tổ chức trong các đảng riêng biệt, mỗi nhóm sẽ giành được một phần nhỏ trong tổng số ghế, có khả năng rằng những khác biệt chính trị đó sẽ được khuếch đại thêm hơn là nén nhỏ lại. Các chính phủ có thể được thiết lập/tổ chức chỉ với khó khăn trở ngại, cấu tạo của họ có thể sẽ là khó lường, và tính ổn định của họ có thể rất không chắc chắn. Giovani Sartori đã gọi trạng thái này là “đa nguyên phân cực*polarized pluralism,” một trạng thái được thúc đẩy bởi PR và có lợi cho chủ nghĩa bảo thủ. Các đảng phái chỉ cố gắng giành được ủng hộ từ những người hỗ trợ cho họ và sự thỏa hiệp thì rất khó để đạt được.4

Không phải tất cả mọi người đều đồng ý với những phán đoán trên. Những nhà lý luận dân chủ liên minh*consociational democracy biện luận rằng những khác biệt sắc tộc có thể được giải hòa bởi các liên minh một khi tất cả các nhóm lớn được đại diện trong nghị viện bất chấp proportional representation (và bất chấp sự áp dụng sự đa dạng của các quy tắc quản trị xung đột, in addition to PR*). Nhưng, như tôi đã gợi ý từ trước, hệ thống bầu cử không chỉ đơn thuần đại diện cho những khuynh hướng tồn tại từ trước; nó còn định hình những khuynh hướng ấy. Dưới những hệ thống khác, các phe cánh nào duy trì được trong chỉ một đảng chính trị, vì sợ không thể giành được nhiều ghế, may, under PR, be tempted to go it alone*. Trong một xã hội phân hóa gay gắt, với nhiều nhóm và subgroup affiliations* và nhiều sắc thái quan điểm đa dạng, list PR* là có khả năng giải quyết tốt vấn đề phân hóa đảng phái.

Bằng việc đại diện cho nhiều sắc thái quan điểm đa dạng – và bằng sự tăng lên nhanh chóng của các sắc thái quan điểm – list PR* không hề khác biệt với mục tiêu chọn ra Condorcet winner*. Và ngược lại: những hệ thống nào tốt trong việc chọn ra Condorcet winner* thì sẽ tạo ra sự liên hợp các quyền lợi với nhiều ứng viên thất bại không được đại diện, cũng như PR does not*. Tuy nhiên, xin hãy lưu ý, rằng Condorcer winner thì có khả năng/có vẻ thích hợp là ứng viên nhìn chung là ôn hòa. Mặt khác, PR winners* thì có thể ôn hòa hoặc không. Sự đẩy mạnh/thúc đẩy trọn vẹn của PR là đại diện cho tất cả mọi quan điểm, bất kể rằng vị thế của họ trên political spectrum*. Thành ngữ mô tả của Sartori, “đa nguyên phân cực*polarized pluralism,” là thích hợp với nơi nào có spectrum* rộng/rõ hoặc có nhiều hơn một spectrum*, as there is* khi/khi nào các tầng lớp phân tách cùng nhau tồn tại mà không chồng chéo với những sự phân chia sắc tộc, tôn giáo, vùng miền.

Một hệ thống lựa chọn Condorcet winner thì có thể do đó mà còn thúc đẩy liên minh các dân tộc, một cách dễ dàng bằng việc ủng hộ những người ôn hòa hoặc thỏa hiệp với các ứng viên có quan điểm quá cực đoan. Hệ thống của người Lebanon được áp dụng để làm điều đó khi ưu ái những ứng viên có thể giành được ủng hộ từ các cử tri ngoài nhóm của họ. Điều tương tự cũng xảy ra cho những hệ thống đòi hỏi sự hỗ trợ regionally well-distributed*, ngoài ra còn cả tính đa số/đa nguyên*plurality, để giành được chiến thắng: họ khiến việc một ứng viên nào mà xoay sở để đạt được các yêu cầu thì có thể có sức lôi cuốn rộng rãi và việc đó không như trở thành một người cực đoan, nổi tiếng chỉ với phân khúc dân số của anh/cô ấy.

The alternative vote* còn thúc đẩy những người có quan điểm ôn hòa. AV là một hệ thống bầu cử, không như first-past-the-post, yêu cầu trên 50% số phiếu bầu để giành chiến thắng. Nơi nào không có ứng viên nhận được quá 50% lá phiếu của vòng bỏ phiếu đầu tiên, AV* bắt buộc ứng viên nhận được ít phiếu nhất trong vòng đầu tiên phải bị loại và vòng bỏ phiếu thứ hai được phân phối lại giống như vòng đầu tiên. Quy trình được lặp lại cho đến khi ứng viên nhận được 50%. Theo cách này, chiến thắng sẽ dành cho những ứng viên có được hỗ trợ thêm từ bên ngoài những người ủng hộ nòng cốt đã bầu cho họ từ vòng đầu. Một biến thể của dạng này là nguyên tắc Coombs, nếu không ứng viên nào nhận được 50% trong vòng bầu đầu tiên thì ứng viên nào nhận được số phiếu lớn nhất trong vòng cuối cùng, đúng hơn so với số phiếu ít nhất trong vòng đầu tiên, thì sẽ bị loại đầu tiên, và quy trình thực hiện được tiếp tục cho đến khi ứng viên nào nhận được trên 50% số phiếu thì chiến thắng. Coombs được khẳng định là tốt hơn so với AV trong việc chọn ra Condorcet winner*.5

Tuy nhiên, xin lưu ý rằng chẳng AV hay Coombs có thể cho kết quả bầu cử có tỷ lệ cân xứng, nếu ta hiểu điều đó là sự tương ứng tỷ lệ của lá phiếu trong vòng bầu đầu tiên với số ghế. Nhưng tất nhiên, trong những hệ thống có ưu đãi như thế, việc chỉ đánh giá riêng tính tương ứng tỷ lệ bằng kết quả vòng bầu đầu tiên là vô nghĩa. Điểm tổng thể của hệ thống là count second* và tiếp theo là ưu tiên của các cử tri, hơn là loại bỏ họ như cách mà first-past-the-post* và list PR* thực hiện. Tính cân xứng tỷ lệ về cơ bản là không liên quan đến sự ôn hòa, sự ôn hòa cũng không liên quan đến tính cân xứng tỷ lệ. Chúng là hai mục tiêu hết sức khác nhau.

Nếu những hệ thống ưu tiên như AV hoặc Coombs được mong đợi rằng chúng có thể phản ánh toàn bộ mong muốn của cử tri, chúng còn có thể định hình những mong muốn đó, và chúng có thể định hình hành vi của các đảng phái cạnh tranh trong chúng. Chìa khóa cho điều này là điểm mốc 50% để giành thắng lợi ở mỗi đơn vị bầu cử. Khi các đảng nhận ra rằng có thể họ sẽ không tự bảo toàn được 50% lá phiếu tại một đơn vị bầu cử hoặc across a run of* đơn vị bầu cử, họ có khả năng sẽ thiết lập liên minh trước khi diễn ra bầu cử để exchange second and subsequent preferences*. Nếu họ không làm thế, các đối thủ của họ cũng sẽ làm. Something of an analogus sort* (nhưng thường với cường độ ít hơn) xảy ra dưới hệ thống first-past-the-post*, cho một đảng muốn chiến thắng nhờ đa số phiếu có thể cố gắng để trở thành một tổ chức có sức tập hợp rộng rãi chứa đựng một phạm vi các quan điểm, và có xu hướng chứ đựng cả các nhóm xã hội. Tuy vậy, những ngưỡng đa số có thể tạo ra cả những sự khích lệ khác cho các đảng trong một hệ thống đảng bị phân hóa. Trong một cuộc tranh luận four-way* theo luật lệ đa số, một đảng có thể chiến thắng chỉ với 26 hoặc 30 hoặc 35% số phiếu; và trong những three-way and four way races*, đảng đó có thể bảo toàn 40 hoặc thậm chí là 50% số ghế on the strength of a much smaller percentage of the total vote*. Như vậy thì một đảng không cần phải mở rộng những hỗ trợ dành cho họ một cách quá mức, và không cần phải thỏa hiệp với các nhóm xã hội khác để chiến thắng trong bầu cử. Nhưng nơi nào mà ngưỡng giành chiến thắng tại mỗi đơn vị bầu cử là 50% và hệ thống đảng bị phân hóa thì sẽ có sự thúc đẩy mạnh mẽ cho các đảng thỏa thuận với các đảng khác để exchange second and subsequent preferences*. Thành công của những exchange* đó có vẻ thích hợp để xác định người chiến thắng.

Do vậy, các hệ thống có ưu đãi ấy khuyến khích sự hình thành của các liên minh trước bầu cử, và những liên minh đó lần lượt phụ thuộc vào khả năng của các đảng thỏa hiệp trên những khác biệt của họ. Vì thế, ngưỡng hòa giải của hệ thống trong loại này đặt dưới những điều kiện cụ thể.

Một hệ thống ưu tiên khác, the single transferable vote*, cung cấp ít ưu đãi hơn. Đó là bởi vì ngưỡng chiến thắng bị khống chế theo một cách tính khác. STV* vận hành trong những đơn vị bầu cử đa thành viên. Để được trúng cử, một ứng viên phải giành được hạn ngạch, như sau:


Hạn ngạch =

1

+1

Số ghế +1

 

Nói cách khác, một ứng viên được cho là trúng cử nếu, trong một đơn vị bầu cử có bốn thành viên, ông/bà ấy nhận được 1 phiếu vượt qua một phần năm số phiếu. Ngưỡng thấp ấy có ít động viên cho các đảng liên minh với nhau để nhượng lại lá phiếu, dù rằng ghế cuối cùng trong một đơn vị bầu cử có thể được quyết định dựa trên phiếu bầu chuyển đổi, cũng như các phiếu vượt qua hạn ngạch chiến thắng được chuyển đổi cho phù hợp với exchange second and subsequent preferences* của voters providing those surplus votes*. Bởi thế, STV* hầu như khuyến khích yếu hơn cho thỏa hiệp hơn so với những hệ thống ưu đãi với ngưỡng đa số.

Nếu các đảng không hướng tới số lá phiếu (trong trường hợp này là in the form of second and subsequent preferencers*) từ các cử tri trung thành với các đảng khác, một hệ quả quan trọng sẽ kéo theo. Trong các thiết lập xã hội phân cực, các đảng có thể không cần trung lập hóa vị thế của họ, và những người hỗ trợ cho họ cũng không cần bận tâm vè những đòi hỏi của các nhóm xã hội khác. Sau bầu cử, tất nhiên, những sự thiết lập liên đảng có thể được tiến hành để tổ chức chính phủ. Dưới list PR hoặc STV hoặc first-past-the-post*, trong điều kiện các đảng bị phân hóa, những liên minh hậu bầu cử sẽ hầu như chắc chắn là cần thiết, nhưng chúng sẽ không dựa trên sự thấu hiểu cần thiết cho các đảng – điều đã làm nên các liên minh trước bầu cử để tối đa hóa tỷ lệ phiếu bầu cho họ, hơn là chỉ đơn thuần để có thể cùng nhau có đủ ghế để thiết lập một chính phủ.

Không ai nói rằng STV* không đáp ứng được chức năng nào. Về cơ bản, nó cho ra những kết quả tương đối đúng tỷ lệ, nếu tính tương ứng tỷ lệ được cân nhắc hàng đầu, mặc dù tính tương ứng tỷ lệ phụ thuộc lớn vào số lượng ghế mà mỗi đơn vị bầu cử có (số ghế càng nhiều, tỷ lệ càng chính xác). Và với các điểm bầu cử áp dụng STV*, nó cung cấp một vài the same constituency responsiveness* first-past-the-post hoặc AV* cũng có, mặc dù, tất nhiên, những ghế đa thành viên và ngưỡng chiến thắng thấp có thể giảm bớt nhu cầu của ứng viên trong việc phục vụ các quyền lợi của những người thuộc về nhóm with which they themselves not identified*. Constituency-list PR* còn là một hệ thống cung cấp trách nhiệm giải trình đến cử tri  và một dạng thức tập trung địa phương mà national’list PR* không cung cấp được.

Chú trọng đến những chi tiết sống còn

Như tôi đã tranh luận về các hệ thống bầu cử trên khía cạnh các mục tiêu của chúng, cũng như những khác biệt lớn trong trọn vẹn kết quả nhận được từ những khác biệt giữa những đặc tính cố hữu trong những hệ thống đó. Nhưng một cảnh báo lớn phải được nêu ra ở đây. Kết quả bầu cử không chỉ được tạo ra bởi hệ thống bầu cử, mà còn bởi khuôn mẫu tồn tại từ trước trong các phân tầng xã hội, dù đơn giản hay phức tạp, dù lưỡng cực hay đa cực. Liệu rằng chỉ có duy nhất một khác biệt xuyên suốt xã hội mà có thể sẽ được phản ánh trong hệ thống đảng, hay là có nhiều hơn chỉ một? Ở mức độ/phạm vi nào thì phân hóa xã hội chồng chéo lên nhau? Liệu rằng có hai hay ba hay nhiều hơn nữa những vị trí mà tại đó các cử tri tự định vị mình so với mỗi khác biệt xuyên suốt trong xã hội? Và sau đó thì có những đặc tính cụ thể của những thiết lập bầu cử trong một chính thể. Những điều này có thể bóp méo đi kết quả theo một hướng này hoặc một hướng khác. Với những hệ thống dựa trên đơn vị bầu cử, ranh giới và sự phân chia của đơn vị bầu cử là hết sức quan trọng. Liệu các ranh giới đơn vị bầu cử có được vạch ra để tối đa hóa tính thống nhất đồng đều hay tính đồng nhất giữa những điều xuyên suốt có liên quan? Nhu cầu cấp bách cần bầu cử bảo đảm sẽ thay đổi theo đó. Liệu những biên giới được vạch ra nên có những nhóm lãng phí các lá phiếu bầu cho những ứng viên được ưa thích hơn bởi đại đa số, trong khi những nhóm khác có thể dùng lá phiếu của họ có hiệu quả hơn? Liệu những đơn vị bầu cử là công bằng hay không công bằng hơn so với dân số? Sự thiếu công bằng trong tỷ lệ phân bố đại biểu các đảng phái trong nghị viện là nguyên nhân chính của bất công trong bầu cử.

Với list PR*, một vấn đề phát sinh tương tự là liệu rằng một ngưỡng chiến thắng là thấp (1-2%) hay cao (5% hoặc hơn) cho một đảng để bảo toàn tư cách đại biểu. Một hệ thống mà trong đó đảng phái với 1% phiếu bầu có thể giành được một ghế hoặc nhiều ghế trong quốc hội thì có sự khích lệ rất lớn cho các đảng chia tách thành phe cánh, và nó có thể trở thành những đảng rất nhỏ có thể tạo nên hoặc gián đoạn chính phủ để có ảnh hưởng thiếu tương xứng trong ủng hộ chính sách và nhận bảo trợ, như các đảng nhỏ làm ở Israel. Mỉa mai là, nếu tính tương xứng tỷ lệ được xây dựng càng hoàn hảo thì những kết quả của chính sách lớn càng có thể là không cân xứng.

Ngưỡng chiến thắng rất cao của những hệ thống PR* có thế cho ra những kết quả còn thất thường hơn nữa. Nếu toàn bộ cử tri bị phân hóa, một số đảng có thể không đạt được ngưỡng chiến thắng và chẳng bảo toàn được ghế nào cả, một cách tình cờ lại đem cho những đảng ở trên ngưỡng chiến thắng thêm một lượng ghế lớn. Một ví dụ nổi bật về hiện thượng này là bầu cử năm 2002 ở Thổ Nhĩ Kỳ, khi mà Đảng Công lý và Phát triển Hồi giáo thắng lợi với đại đa số ghế mà chỉ với lượng nhỏ phiếu bầu, và quá nhiều đảng thất bại khi không thể vượt qua ngưỡng chiến thắng 10% và 46% lá phiếu đã giành được trong toàn bầu cử đã bị lãng phí.6

Điều này là đủ để cho thấy những chi tiết quan trọng. Các hệ thống bầu cử cần được thiết kế gần gũi với những việc mà người thiết kế ra nó muốn nó thực hiện. Tất nhiên, trong nhiều trường hợp thì những người thiết kế các hệ thống muốn chúng cho ra kết quả thỏa mãn đảm bảo lợi ích mà họ quan tâm. Quan điểm của tôi là có nhiều cách để đánh giá các hệ thống bầu cử và sự thiết lập cụ thể được tạo ra căn cứ theo đó. Và rất có thể rằng, mục đích của những người thiết kế là không thành vấn đề, sẽ có một vài hệ quả không dự kiến.

Trong mọi phân tích, cashc để tiến lên là đặt câu hỏi xem mục tiêu nào cần được chú trọng, những mục tiêu nào nên được ưu tiên so với những mục tiêu khác, và những hiệu ứng có thể có của những thay thế khác thực sự là gì. Chẳng ai có thể trả lời những câu hỏi này mà không phân tích mở rộng sang những mối liên hệ với luận điểm bầu cử với hệ thống đảng và khuôn mẫu của những phân hóa xã hội.

Có nhiều cách để khiến một hệ thống bầu cử bị biến chất, kể cả những hệ thống đã được chọn lựa cẩn thận. Có một cách rất thông thường liên quan đến ranh giới và giới hạn của các đơn vị bầu cử. Những đơn vị bầu cử với số lượng cử tri chênh lệch nhau quá lớn là nguyên nhân chính của những kết quả không tương xứng tỷ lệ. Những đơn vị bầu cử mà ranh giới được mở rộng để tạo lợi thế cho một nhóm sắc tộc hơn nhóm khác có thể xóa bỏ những ảnh hưởng của những hệ thống bầu cử có các đặc tính hòa giải sắc tộc. Các ranh giới được đặt ra để thiên vị những người đương nhiệm có thể khiến những thay đổi chính trị trở nên bất khả thi. Do vậy, việc đó là quan trọng, không chỉ đơn thuần để chọn một hệ thống bầu cử thích hợp, mà còn để cố định nhất có thể những biên giới được mở rộng bởi những người có liên quan đến chính phủ như người trung lập, giáo sư, người không đảng phái.

Ranh giới phân định đơn vị bầu cử có một vài yêu cầu đặc biệt ở những nơi mà các hệ thống được áp dụng với các liên minh đa sắc tộc hoặc đa tôn giáo là mục tiêu chính. Nếu the alternative vote* hoặc nguyên tắc Coombs hoặc hệ thống như ở Lebanon được chọn, các đơn vị bầu cử phải được phân chia để đảm bảo rằng chúng là đa dạng trong thành phần cấu tạo.

Sự chú ý tương tự tới chi tiết là điều bắt buộc để khiến hệ thống bầu cử tổng thống theo kiểu Nigeria vận hành hiệu quả. Hệ thống của Nigeria năm 1978 đòi hỏi ứng viên chiến thắng giành được đa số cộng thêm 25% lá phiếu in no fewer than* hai phần ba của các bang. Trong khi hệ thống này tạo ra sự khuyến khích cho hỗ trợ phân bổ rộng rãi, nó còn mở ra cơ hội rằng không ứng viên nào bảo toàn sự phân được đòi hỏi theo vùng miền để trúng cử. Vậy nên, đó là cần thiết để có những dự phòng rõ ràng và dứt khoát fallback* để chọn ra một chủ tịch nếu tình huống bất ngờ này xảy ra. Những người lập nên hiến pháp Indonesia mới đây đã áp dụng ngưỡng chiến thắng 50% + 1 cho yêu cầu phân bổ cấp tỉnh, theo cách ấy khiến việc đó trở nên đặc biệt khó khăn cho các ứng viên để có thể giành được thắng lợi trong vòng đầu tiên nếu có vài ứng viên cùng tham gia. Việc quan trọng là không nên  đặt ra ngưỡng chiến thắng quá cao đến nỗi có thể xóa  bỏ những lợi ích mà hệ thống này có. Một cách ngắn gọn, sự lựa chọn bầu cử không thể stop at the level of the electoral alone* mà phải kéo dài đến tất cả những chi tiết của việc thi hành nó để có thể nhận được những lợi ích so sánh của hệ thống.

Mặc dù tôi có nói rằng “hệ thống có lợi ích so sánh,” không phải tất cả những người tham gia sẽ nhất thiết ưu tiên một hệ thống tương tự. Những ưu điểm ấy by status quo* sẽ có chiều hướng ưu tiên chúng, trong khi những khuyết điểm có thể prefer various alternatives*, phụ thuộc vào những lợi ích và những dự báo của chúng về các hiệu ứng có thể có của một hệ thống này hoặc hệ thống khác. Khi Nhật Bản thay đổi hệ thống của họ vào năm 1994, nhiều nhà chính trị đối lập đã ủng hộ một hệ thống đa số có thể tạo ra hệ thống hai đảng cạnh tranh, nhưng những người khác muốn một hệ thống có tỷ lệ tương ứng có thể đảm bảo cho sự tồn tại của những đảng thiểu số. Kết quả là Nhật có hệ thống lai* như đã mô tả.

Vì vậy, lựa chọn một hệ thống bầu cử chắc hẳn là bao gồm conflicting preferences* và những dự báo không chắc chắn về những hiệu ứng. Và việc chọn một hệ thống mới theo một quy trình chặt chẽ là điều rất bức thiết. Nhu cầu đảm bảo cho số đông có được sự thông qua có thể phù hợp với tác dụng không cân xứng với một ít nhà lập pháp with distinctive interests and so skew the reform one way or another*. Tuy nhiên điều tuyệt vời có thể là sự rõ ràng về những mục tiêu ngay từ đầu, sự cải cách bầu cử mạch lạc một cách hoàn hảo là rất khó để đạt được.

CHÚ THÍCH

Tôi mang ơn với IKMAS và giám đốc IKMAS, Giáo sư Ragaya Mat Zin, về lòng mến khách trong suốt thời gian mà bản nháp cũ hơn của bài luận này được viết, và tôi mang ơn Chương trình Fulbright Senior Specialist vì đã khiến bài luận được hoàn thành.

1.      Bỏ phiếu dồn tích đã được mô tả như một hệ thống bao gồm những khuyến khích phân quyền – là những lý do khiến các ứng viên tạo nên khác biệt bằng việc nhận lấy những vị trí xa khỏi trung tâm chính trị. Gary W. Cox, “Khuyến khích Hướng tâm và Ly tâm trong các Hệ thống Bầu cử,” Tạp chí Chính trị học Hoa Kỳ 34 (tháng mười một năm 1990): 903-35.

2.      For one among many assessments*, see Charles Cameron et al., “Do Majority-Minority Districts Maximize Substantive Black Representation in Congress?”* Review Chính trị học Hoa Kỳ (tháng mười hai năm 1996): 794-812.

3.      Xem Micheal F. Thies, “Thay đổi cách người Nhật Bầu cử: Hứa hẹn và Cạm bẫy trong Cải cách Bầu cử 1994,” trong John Fuhsheng Hsieh và David Newman, eds*., Châu Á Bầu cử thế nào (London: Nhà xuất bản Chatham, 2002), 92-117.

4.      Sartori đưa ra quan điểm này trong “Các đảng phái Chính trị Châu Âu: Trường hợp của Polarized Pluralism*,” trong Joseph LaPalombara and Myron Weiner, eds., Các Đảng Chính trị và sự Phát triển Chính trị (Princeton: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 1996), 137-76. Sartori đã theo đuổi chủ đề này trong Các Đảng và các Hệ thống đảng: một Khung hình cho Phân tích (New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1976), và gần đây có nhiều tranh luận về chủ đề này hơn trong Kỹ thuật So sánh Lập Pháp: một Điều tra về các Cấu trúc, Khuyến khích và Kết quả tái bản lần hai (New York: Nhà xuất bản Đại học New York, 1997). Xem thêm cả Gary W. Cox, “Khuyến khích Hướng tâm và Ly tâm trong các Hệ thống Bầu cử,” 921-22.

5.      Bernard Grofman và Scott Feld, “Nếu Bạn Thích the Alternative Vote (còn gọi là Instant Runoff*), Thì Bạn sẽ Thực sự Thích Nguyên tắc Coombs,” bài viết chưa xuất bản, Đại học California-Irvine, ngày 1 tháng ba năm 2002.

6.      Soli Özel, “Thổ Nhĩ Kỳ khi Bầu cử: Sau cơn Bão lớn,” Tạp chí Dân chủ 14 (tháng tư 2003): 80-94.

 
 
Blogger Templates