Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

[Dịch xong] - Chương 19 - NĂM BẦU CỬ NGẶT NGHÈO CỦA IRAQ

NĂM BẦU CỬ NGẶT NGHÈO CỦA IRAQ

Adeed Dawisha and Larry Diamond
Adeed Dawisha là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Miami tại Ohio và là tác giả của Chủ Nghĩa Quốc Gia Ả Rập Trong Thế Kỷ XX: Từ Triumph tới Despair (2003). Ông từng viết nhiều đề tài về nền chính trị đầy tính cạnh tranh ở Iraq trong suốt nửa đầu thế kỷ XX và trong giai đoạn sau chiến tranh gần đây. Larry Diamond là thành viên cấp cao tại Viện Hoover, biên tập viên cộng sự của Tạp Chí Dân Chủ, và là tác giả của Sự Chiến Thắng Hoang Phí: Sự Chiếm Đóng Của Người Mỹ Và Những Nỗ Lực Vụng Về Đem Dân Chủ Đến Iraq (2005). Bài viết này ban đầu xuất hiện trên số ra tháng Tư năm 2006 của Tạp Chí Dân Chủ.
Năm 2005 có lẽ được xem là cột mốc đánh dấu những hệ quả chính trị sâu sắc nhất trong lịch sử hiện đại của đất nước Iraq. Chỉ trong vòng khoảng thời gian chưa tới mười một tháng, quốc gia này đã thực hiện ba cuộc bầu cử. Hai trong số đó, diễn ra vào đầu và cuối năm, đã bầu ra được Quốc hội dưới sự chuyển tiếp và sau đó đã thảo ra bản hiến pháp dài hạn. Chen giữa hai cuộc bầu cử này, vào tháng Mười, là cuộc trưng cầu nhằm thông qua bản dự thảo hiến pháp. Những cuộc bầu cử này đã diễn ra thành công, với sự tham gia bỏ phiếu đông đảo của người dân Iraq bất chấp những thách thức ẩn đằng sau nó, sự đe dọa khủng bố và các cuộc tấn công của phe nổi dậy trên diện rộng. Nhưng trong những đứt gãy sắc tộc và tôn giáo tạo nên rào cản được xem như là nguyên tắc cấu thành chính của nền chính trị này, ba cuộc bầu cử trên đề cao vai trò và những giới hạn của việc xây dựng cơ chế bầu cử nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý và kiểm soát khả năng phân cực trong nền chính trị.
Vì quá trình tái thiết sau chiến tranh của Iraq đã bắt đầu thay đổi từ giai đoạn mang tính thách thức phải cấp bách duy trì sự ổn định sang một nhiệm vụ mới về sự tái lập chính trị, nên một trong những khó khăn chính cần phải đối mặt là việc làm sao để lựa chọn ra được một cơ chế để tiến hành bầu cử trước tiên một Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp, và sau hết là tiến đến một Hội Đồng Quốc Gia lâu dài.1 Vài tháng sau khi được thành lập vào tháng Năm năm 2003, Chính Quyền Liên Minh Tạm Thời (CPA) đã giao nhiệm vụ cho các chuyên gia đến từ IFES (được thành lập như một Tổ Chức Quốc Tế về Các Cơ chế Bầu Cử) và một số đơn vị khác trong việc tư vấn cách thức triển khai những cuộc bầu cử tại Iraq. Cùng lúc đó, những chính trị gia của Iraq và các cố vấn của họ cũng đang bắt đầu xem xét vấn đề trên. Về lý thuyết, tất cả các tùy chọn được đề xuất là: hình thức đại diện tỉ lệ hoặc một dạng biến thể của nó (PR); the single-member first-past-the-post system (FPTP); một số cơ chế kết hợp hai phương pháp trên; bỏ phiếu thay thế (AV); bỏ phiếu chuyển nhượng đơn (STV); và bỏ phiếu không chuyển nhượng đơn (SNTV).
Hầu hết các tùy chọn trên đã bị loại khỏi danh sách ngay từ đầu bởi vì chúng hoặc là không thực tế hoặc không phù hợp với hoàn cảnh chính trị tại Iraq. Chẳng hạn như FPTP rất được quan tâm trong số này vì nó hứa hẹn sẽ giới hạn quyền lực của các đảng phái có khuynh hướng độc tài và khuyến khích tiến hành những cuộc bầu cử đối với các bên đại diện độc lập và đến từ địa phương, làm giảm thiểu viễn cảnh của sự thay đổi hình ảnh bầu cử thành một cuộc trưng cầu mang tính phân cực chỉ dựa trên quan điểm tôn giáo và sắc tộc. Nhưng dù sao, cũng vì là đây là một cơ chế được quyết định đặc biệt bởi số đông, nên bản chất của FPTP rõ ràng là không phù hợp với một quốc gia bị chia cắt mạnh mẽ như Iraq, nơi mà điều quan trọng là đảm bảo một mức độ công bằng nhất định trong số người đại diện phải đến từ mọi nhóm dân chiếm đa số cũng như những sắc dân thiểu số.2 Đối với AV, về mặt lý thuyết, nó còn được quan tâm nhiều hơn nữa, với lý do mà Donald Horowitz mô tả rằng: Với sự yêu cầu các cử tri ở mỗi khu vực đơn lẻ xếp hạng các ứng cử viên trên lá phiếu bầu của mình, điều này buộc các ứng viên phải tranh đua để khỏi bị những người đi bầu xem xét đưa vào vị trí có thứ bậc thấp hơn và do đó tạo ra sự điều chỉnh thích hợp.3 Nhưng nó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng không có cơ chế nào trong số này sẽ trở nên thiết thực, vì lý do đơn giản là một chính quyền được bầu lên của Iraq, dù cho nó có được hỗ trợ và tư vấn bởi cộng đồng quốc tế có nhiều đến mức nào đi chăng nữa, thì nó vẫn sẽ thiếu thời gian, nguồn lực, dữ liệu điều tra dân số đáng tin cậy, hoặc sự tín nhiệm chính trị để vạch ra những ranh giới giữa 275 khu vực đơn lẻ (the size of parliament that the interim constitution established in March 2004).
Một điều mà chúng ta cũng cần phải tính đến đó là những người đi bầu tại Iraq. Mặc dù đã có những kế hoạch về một chương trình bao quát cho việc giáo dục dân sự, ưu tiên trước hết vẫn là làm sao giữ cho các lá phiếu và quá trình bỏ phiếu càng đơn giản càng tốt. Việc bảo mọi người phải phân hạng vài ứng cử viên trên lá phiếu, điều mà họ chưa từng làm tại một cuộc bầu cử dân chủ trong vòng năm mươi năm qua, dường như thật quá sức. Cũng cùng nguyên nhân tương tự, STV bị xem là kém tính thực tế bởi vì nó đòi hỏi người bỏ phiếu phải xuy xét và xếp hạng thậm chí đối với nhiều ứng cử viên hơn tại những khu vực có nhiều ứng viên. Tất cả các cơ chế này do vậy bị loại sang bên khá sớm trong quá trình chuẩn bị phương án cho những cuộc bầu cử ở Iraq. Vậy thì liệu có loại cơ chế tích hợp nào chỉ cần lựa chọn một ứng viên cho mỗi khu vực. Đó là điều SNTV đã làm được – theo đó người đi bầu chỉ lựa chọn một người duy nhất trong một khu vực có nhiều ứng viên, không còn tình trạng phải bầu thêm những ứng viên dư thừa khác của cùng một đảng. Tuy SNTV đưa ra một cơ chế rất đơn giản cho người bỏ phiếu, nhưng tất cả các chuyên gia đều biết có những thực tế tiềm tàng theo hướng ngược lại, mà nó đòi hỏi một mức độ đáng kể của việc lập kế hoạch và phối hợp trong các nhóm tranh cử và giữa các nhóm tranh cử với những thành phần ủng hộ họ nhằm đảm bảo được các mức độ phù hợp một cách tương xứng và có lý để đạt được kết quả mong muốn.
Việc cần phải cân nhắc đến cả hai yếu tố về sự hiệu quả và khả năng áp dụng vào thực tiễn do vậy đã khiến các chuyên gia quốc tế cũng như những nhà lãnh đạo chính trị của Iraq và các cố vấn của họ thiên về cơ chế PR nhiều hơn. Quả thật, PR là một lựa chọn hấp dẫn cho Iraq vì nhiều lý do. Trước tiên, nó thích ứng với sự chia đều quyền lực hay tính hợp lý một cách “Consociational” trong việc xây dựng thể chế mà Iraq đang cố hướng đến. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố trên đã trở thành một nguyên tắc cơ bản trong lịch sử chính trị của Iraq với việc bổ nhiệm Hội Đồng Chính Phủ Iraq vào tháng Bảy năm 2003 – có 25 thành viên đại diện cho sự cân bằng mỏng manh giữa các dòng Shi’ite, Sunni và nhóm người Kurd tương ứng với tỉ lệ của những nhóm này chiếm trong tổng dân số Iraq (nó cũng bao gồm một thành viên đại diện cho mỗi cộng đồng thiểu số Turkoman và người Công giáo Assyria).4 PR duy trì được tính logic là mỗi nhóm nên biết rằng họ phải chia sẻ quyền lực dựa theo tỷ lệ của số lượng nhóm đó trong xã hội. Sự mong đợi này – mà nó nhanh chóng trở thành một quyền lợi – đã từng là mối lo ngại sâu sắc đối với vài người dân Iraq và những cố vấn nước ngoài, nhưng một khi tính logic được xác lập, nó trở thành cơ chế không thể chối bỏ.
Thứ hai, những người lãnh đạo của các nhóm trọng yếu như dòng Shi’ite và nhóm người Kurd hào hứng với cơ chế PR này vì nhờ vậy sẽ giúp họ củng cố vị thế trong hệ thống chính trị và cho họ sự kiểm soát chặt chẽ hơn về việc ai sẽ điều hành nhóm của họ. PR cũng tạo sự dễ dàng hơn cho các bên khác thuộc nhóm người Kurd và dòng Shi’ite để cùng hiện diện trong những danh sách chung. Cuối cùng, những người ủng hộ cho một chỉ tiêu đảm bảo cho sự đại diện của phụ nữ trong Quốc hội – chẳng hạn như Hội Đồng Phụ Nữ Tối Cao Iraq – đã được đề xuất bởi PR vì sự phù hợp mang tính kỹ thuật cao nhằm đảm bảo sự đại diện của phụ nữ. Ví dụ, những chuyên gia quốc tế ước tính rằng nếu các bên được yêu cầu phải nâng cao vai trò phụ nữ ở mức độ không thấp hơn mỗi third interval trong các danh sách xếp hạng của họ, thì có thể đạt được khoảng 25 phần trăm chỉ tiêu tối thiểu dành cho phụ nữ đại diện trong Quốc hội – kế hoạch này được viết vào bản hiến pháp tạm thời và giữ lại, ít nhất là cho đến một thời kỳ chuyển tiếp, trong một bản hiến pháp lâu dài, thậm chí nếu PR được thực hiện tại một loạt các khu vực đa ứng cử viên. Việc xây dựng một cơ cấu để đảm bảo một tỷ lệ tối thiểu của phụ nữ trong Quốc hội sẽ khó khăn và trở ngại hơn nhiều trong một hệ thống các khu vực chỉ có một ứng viên, hoặc thậm chí trong một hệ thống hỗn hợp.
PR Là Cơ Chế Gì?
Trước khi những cuộc tranh luận trở nên quá dài về việc xây dựng hệ thống bầu cử thì nó đã dẫn tới câu hỏi, PR là cơ chế gì mà sẽ phù hợp nhất đối với Iraq. Ngoài việc lựa chọn một phương thức phân chia số lượng chỉ tiêu cho các bên, còn có hai vấn đề khác: liệu có cần phải có một ngưỡng tối thiểu để toàn bộ các bên có thể tham gia vào Quốc hội, và sự lựa chọn giữa một hệ thống ở cấp độ quốc gia hay hệ thống dựa trên từng khu vực (hoặc kết hợp cả hai) thì cái nào tốt hơn. Một số quan chức CPA, bao gồm nhà quản trị L. Paul Bremer, muốn ngăn chặn sự chia cắt tiêu cực của Quốc hội thành một cơ quan kém hiệu quả được cấu thành từ nhiều bộ phận nhỏ trong khi cũng đảm bảo cho sự đại diện từ các nhóm thiểu số và những người theo chủ nghĩa tự do mà sự ủng hộ của họ có thể được lan ra một phần trong nước. Mà nó cho thấy một ngưỡng bầu cử khiêm tốn không nhiều hơn 2 hoặc 3 phần trăm số phiếu. Nhưng vì những tiềm tàng đáng báo động của việc thiếu xuy xét đến một cách tùy tiện nhóm tôn giáo thiểu số và các nhóm tự do vô tín ngưỡng đã trở nên hiện hữu rõ ràng, nên cả hai vấn đề, tính logic của sự tham gia các bên và sự mong muốn có một Quốc hội có nhiều tiếng nói ôn hòa và độc lập đã ép buộc phải theo hướng không đặt ra ngưỡng nào cả.5
Vào đầu năm 2004, một số quan chức Iraq và quốc tế bắt đầu đưa ra đề xuất cho một cơ chế PR hai-tầng, chủ yếu ở các khu vực bầu cử, nhưng có đủ số ghế lấy từ danh sách quốc gia để đảm bảo sự cân bằng tổng thể giữa số phiếu và số ghế. Vào khoảng thời gian đó, tháng 3 năm 2004, một cố vấn của Iraq cho Hội Đồng Chính Phủ và một cố vấn Mỹ cho CPA đã đưa ra một cách độc lập những đề xuất hầu như giống hệt nhau cho một cơ chế mà qua đó 220 của 275 số ghế sẽ được chia cho 18 tỉnh của Iraq tỉnh – mỗi tỉnh đóng vai trò như là một khu vực bầu cử - dựa trên cổ tỉ lệ của họ chiếm trong tổng dân số.6 những số ghế phân theo tỉnh này sẽ được lấp đầy đầu tiên, bằng cách sử dụng quy tắc của cơ chế PR trong từng tỉnh, và sau đó là 55 ghế còn lại (20 phần trăm của tổng số) sẽ được phân bổ cho danh sách các đảng của quốc gia để đảm bảo rằng mỗi chỉ tiêu số ghế tổng thể của mỗi đảng hoặc của liên hiệp các đảng sẽ phù hợp chặt chẽ nhất có thể với chỉ tiêu bầu cử của quốc gia. (IFES đã ước tính rằng nếu 20 phần trăm số ghế được giữ lại để được lấp đầy từ danh sách quốc gia, thì cơ chế này có thể đảm bảo một mức độ cao trong một tỉ lệ tổng thể.)
Có nhiều lý do thuyết phục cho làm cơ cở cho PR chủ yếu ở các khu vực có quy mô vừa trùng với các ranh giới phân chia tỉnh của Iraq. Đầu tiên, các tỉnh đã được thành lập rồi. Thứ hai, ngay cả khi sự cân bằng dân số giữa các tỉnh xảy ra tranh cãi, thì việc phân phối hai-tầng của số ghế dành cho danh sách quốc gia sẽ đảm bảo tỉ lệ tổng thể. Thứ ba, một cơ chế dựa trên khu vực sẽ cho phép vài liên hệ xuất hiện giữa những đại biểu được bầu và những khu vực bầu cử phân theo địa lý. Và thứ tư, nó sẽ trở nên dễ dàng hơn cho người đi bầu để đánh giá các ứng cử viên cá nhân trên mỗi danh sách, making for greater local accountability.
Cuối cùng, quyết định về một cơ chế bầu cử cho Iraq đã được đưa ra chủ yếu bởi Carina Perelli, trưởng Ban Hỗ trợ Bầu cử Liên Hiệp Quốc (và là người đứng đầu trong công cuộc bầu cử ở Iraq), mà sau đó được thông qua bởi Hội đồng Chính phủ Iraq và được ký kết thành luật bởi Bremer vào ngày 15 tháng Sáu năm 2004, đây là một trong những việc làm cuối cùng của ông dưới chức vụ người điều hành CPA. Khá bất ngờ là, Perelli đã không lựa chọn cơ chế PR hai-tầng, mà thiên về cơ chế PR chỉ xét trên một khu vực duy nhất đó là toàn bộ quốc gia. Bà đã quyết định như vậy vì nhiều nguyên do. Bởi đây là cách dễ nhất để kiểm soát tính tới thời điểm này. Nó tránh việc phải xác định làm thế nào để phân bổ số ghế cho các khu vực, mà điều này là một vấn đề hóc búa khi thiếu vắng số liệu điều tra dân số được chấp nhận rộng rãi. Nó vô hiệu hóa những lo ngại liên quan đến nơi được lựa chọn để mọi người có thể tới bỏ phiếu – đây là vấn đề đối với những người bản địa trước kia sống ở tỉnh này nhưng bây giờ họ có lẽ đang sống trong một tỉnh khác (và là một vấn đề cá biết cho Kirkuk, nơi mà những nhóm người Kurd đang hăng hái quyết tâm nhằm tái định cư cho những người Kurd để đảo ngược một chiến dịch trước đây về sự thanh lọc sắc tộc dưới thời nằm quyền của Đảng Ba'ath). Và, như Perelli đã lý giải trong một cuộc họp báo ngày 04 tháng Sáu, một khu vực duy nhất bao trùm toàn quốc sẽ tạo thuận lợi hơn “cho những cộng đồng [sắc tộc và tôn giáo] đã từng bị chia cắt và phân tán khắp Iraq… có cơ hội tích lũy phiếu bầu và được tham gia bỏ phiếu với những người có cùng chí hướng khác.”7 Tuy rằng một cơ chế bầu cử phân theo từng khu vực kèm với một lượng chỉ tiêu số ghế dành cho danh sách từ quốc gia cũng đã cho phép các cộng đồng từng bị phân tán trước đây có thể tổng hợp số phiếu bầu rải rác của họ ở khắp nơi để lựa chọn ra được một hoặc nhiều thành viên trong Quốc hội ngay cả khi họ bị yếu thế trong việc bầu cử tại bất kỳ một tỉnh nào. Tuy nhiên, không cần phải hỏi thì cơ chế bầu cử chỉ xét ở khía cạnh toàn quốc vẫn là cách dễ dàng nhất.
Sau hết, có hai hậu quả quan trọng trong sự lựa chọn của Pirelli về cơ chế bầu cử cho Iraq. Thứ nhất, vì sự thiếu vắng các ứng cử viên từ các khu vực đơn lẻ trong việc bầu cử, những cuộc bầu cử vào tháng Một năm 2005 đã trở nên gần như hoàn toàn là một cuộc trưng cầu mang bản sắc quốc gia không có sự tiết chế bởi bất cứ yếu tố hoặc đặc trưng nào của địa phương. Và thứ hai, việc thiếu xét đến sự đại diện từ các khu vực dựa vào địa lý, cùng với một loạt lời trách cứ khác, đã dẫn tới việc hầu hết các đảng chính trị người Sunni đã tẩy chay các cuộc bầu cử này.8 Mỗi hậu quả trên đều gây tác động lớn lên nền chính trị tại Iraq.
Hai Cuộc Bầu Cử Đầu Tiên
Các cuộc bầu cử ngày 30 tháng Giêng giúp chọn ra một Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp, với nhiệm vụ viết một bản hiến pháp dài hạn cho Iraq, tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để thông qua bản hiến pháp này, và chuẩn bị cho đất nước những cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức không muộn hơn tháng Mười Hai cùng năm. Giữa tình cảnh tranh chấp cục bộ, tháng Giêng đã chứng kiến một chiến dịch tranh cử nóng bỏng gồm hàng ngàn ứng viên thuộc hơn một trăm đảng phái và các liên đoàn khác nhau. Đáng chú ý là sự vắng mặt của những người theo dòng Sunni tại Iraq. Một thiểu số nhân khẩu chiếm khoảng 20 phần trăm dân số Iraq, họ từng là tinh hoa quyền lực và chính trị của đất nước này trong nhiều thế kỷ, vị thế thống trị của họ đã được củng cố dưới sự cai trị ngang nhiên của phe cánh Saddam Hussein. Với sự sợ hãi đánh mất quyền lực chính trị, phe cánh này đã cố gắng gây cản trở và biến các cuộc bầu cử trở nên bất hợp pháp, công khai tẩy chay và coi thường uy tín của chúng vì nó được xem là một nỗ lực theo kiểu đế quốc Hoa Kỳ, trong khi họ lại im lặng và ngầm gật đầu cho phép những đe dọa và sự thị uy của các phần tử nổi dậy dòng Sunni.
Xếp hàng chống lại những người phản đối thuộc dòng Sunni là những người Shi’ite và người Kured, lần lượt chiếm khoảng 60 phần trăm và 20 phần trăm dân số đất nước. Cả hai cộng đồng này đã phải chịu đựng nhiều dưới thời cai trị của Saddam và bây giờ là lúc xác định trong việc nắm bắt thời điểm giúp họ nâng cao quyền thế chính trị. Giáo sĩ cấp cao của dòng Shi’ite, đặc biệt là vị được tôn kính nhất Ayatollah Sayyid Ali al-Sistani Vĩ Đại, công khai kêu gọi đa số người Shi’ite tham gia bỏ phiếu. Mặt khác, nhóm người Kurd, chẳng cần có sự khích lệ nào để tham gia bỏ phiếu với số lượng đông; họ đã nắm chắc trong tay phần lớn nhiệm vụ xây dựng một bản hiến pháp mà nó sẽ bảo vệ quyền tự do văn hóa và chính trị của họ. Cuối cùng, thậm chí với một cuộc tẩy chay bởi hầu hất người Sunni, thì vẫn có 58 phần trăm số người tham gia bầu cử đến đăng ký tại các điểm bỏ phiếu.
Từ một dãi bao la liên danh các đảng phái, có ba khối nổi lên làm chủ Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp với 275 số ghế. Khối lớn nhất, đoạt 140 số ghế, là Liên Đoàn Iraq Thống Nhất (UIA), bao gồm chủ yếu là những đảng phái hoặc cá nhân theo dòng Shi’ite thuộc Hội Đồng Tối Cao cho cuộc Cách Mạng Hồi Giáo ở Iraq (SCIRI) dưới sự lãnh đạo của giáo sĩ Abd al-Aziz al-Hakim và đảng al-Da'wah do Ibrahim al-Jaafari lãnh đạo. Liên Minh Người Kurd, một sự liên hiệp của hai nhóm người Kurd lớn dưới sự lãnh đạo của Masoud Barzani và Jalal Talabani, giành được 75 số ghế; và Liên Danh Iraq, một nhóm những chính trị gia không theo tôn giáo nào dưới sự lãnh đạo thủ tướng tạm thời Iyad Allawi, giành được 40 ghế. Chín nhóm nhỏ khác chiếm 20 ghế còn lại. Được xem là sự thất bại của cuộc bầu cử này, hoàn toàn rõ ràng rằng người Iraq đã tham gia bỏ phiếu với số lượng áp đảo để bảo vệ bản sắc dân tộc và tín ngưỡng của họ. Hầu như tất cả người Kurd (có thể hơn 95 phần trăm) bỏ phiếu ủng hộ Liên Minh Người Kurd, khoảng 75 phần trăm số người Shi’ite bỏ phiếu cho UIA, và ít nhất 75 phần trăm số người Sunni đã quyết định làm theo sự lựa chọn theo giáo phái của họ, đó là tẩy chay cuộc bầu cử này. Kết quả là, chỉ có 17 người Sunni được bầu, và hầu hết những người này nằm trong danh sách những người không có tín ngưỡng và theo chủ nghĩa quốc gia.
Kết quả của cuộc bầu cử là sự báo hiệu cay đắng cho người Sunni. Đánh cược vào sự thất bại, họ đã trở thành những kẻ thua cuộc thực sự. Kiểm soát chỉ 5 phần trăm số ghế trong Quốc hội, những người Sunni đã bị tước quyền thương lượng chính trị trong việc viết nên bản hiến pháp lâu dài mới. Ngay sau khi hình thành vào tháng Tư năm 2005 của chính phủ chuyển tiếp, những người Sunni thay đổi suy nghĩ của họ và đề nghị được tham gia vào ủy ban soạn thảo hiến pháp. Nhận thấy rằng sự cho phép người Sunni tham gia vào công việc chính trị là điều cần thiết giúp giảm bớt những cuộc nổi dậy, người Mỹ đã kiên trì thương lượng để điều này diễn ra, và một thỏa thuận cuối cùng đã đạt được với những nhà lãnh đạo chính trị người Shi’ite và người Kurd để thêm vào 15 đại biểu được bầu và 10 đại biểu không được bầu trong nhóm người Sunni vào 55 thành viên của ủy ban soạn thảo hiến pháp.
All the horsetrading meant that ủy ban hiến pháp ngay từ đầu đã không thảo luận thật sự nghiêm túc cho đến đầu tháng Bảy. Đối mặt với thời hạn vào ngày 15 tháng Tám và một loạt các vấn đề chưa đạt được và còn nhiều kết quả gây tranh cãi, ủy ban này đã đệ ra một xấp tài liệu thỏa hiệp mà có tới hơn 53 văn kiện cần giải quyết tại những thời điểm nào đó trong tương lai.9 Mặc dù vậy, các thành viên Sunni thuộc ủy ban này từ chối chứng thực tài liệu này. Nỗi sợ hãi chính của họ là Iraq có thể sẽ rơi vào một hệ thống liên bang lỏng lẻo với một khu vực của người Kurd ở phía bắc và một một khu vực rộng lớn của người Shi’ite ở phía nam – cùng nhau kiểm soát tất cả tài nguyên dầu mỏ và khí đốt dồi dào của Iraq – do đó chỉ còn để lại cho những người Sunni kiểm soát khu vực ở miền trung với sự thiếu hụt nguồn tài nguyên và năng lượng.
Khi cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 15 tháng Mười đã cận kề, sự thương lượng căng thẳng giữa các nhóm khác nhau vẫn tiếp tục diễn ra, lần này còn có sự tham gia mạnh mẽ từ phía Hoa Kỳ. Mục đích là để đạt được một số thỏa hiệp chính trị nhằm giảm bớt những lo ngại của người Sunni, đặc biệt là những điều có liên quan đến hệ thống liên bang đã được hình dung trước của Iraq. Ba ngày trước khi tiến hành cuộc trưng cầu, các nhà lãnh đạo người Shi’ite và người Kurd chấp thuận đòi hỏi từ đảng lớn nhất của người Sunni, Đảng Hồi Giáo Iraq (IIP), về một văn kiện bổ sung yêu cầu một ủy ban hiến pháp mới được hình thành sau cuộc tổng tuyển cử này, với vai trò thực hiện trong vòng bốn tháng phải có được “những sửa đổi cần thiết cho bản hiến pháp.”10 Mong muốn của Đảng IIP đã được chấp thuận, họ kêu gọi tín đồ của mình không những chỉ tham gia vào cuộc trưng cầu, mà còn để bỏ phiếu ủng hộ văn bản hiến pháp. Ngay sau ngày đó, quân nổi dậy đã đánh bom trụ sở chính của IIP tại thành phố quan trọng của người Sunni, Fallujah.
Việc nâng cao vai trò của Đảng IIP tuy vậy cũng không làm giảm được sự phản đối của người Sunni với bản hiến pháp. Trong khi những khu vực người Shi’ite và người Kurd đa số bỏ phiếu ủng hộ bản hiến pháp, hai tỉnh của người Sunni lại bỏ phiếu chống lại nó triệt để, and a third registered a 55 percent negative vote. Trên thực tế, những người Sunni đã suýt có khả năng loại bỏ hoàn toàn bản hiến pháp này, vì hiến pháp tạm thời trước đây của Iraq quy định rằng hai phần ba tổng số phiếu chống lại văn bản hiến pháp tại bất kỳ 3 tỉnh nào trong số 18 tỉnh của Iraq sẽ dẫn đến việc loại bỏ nó. Trong khi người Sunni lại thất bại một lần nữa trong việc đạt được mục tiêu của họ, thì tinh thần của các nhà lãnh đạo chính trị của người Sunni vẫn trong trạng thái tuyệt hơn rất nhiều bởi sự tham gia của họ ở cuộc trưng cầu này hơn là cách họ đã tẩy chay những cuộc bầu cử hồi tháng Giêng.
Những Cuộc Tổng Tuyển Cử Vào Tháng Mười Hai
Do vậy, hầu như không có lời kêu gọi nào giữa những người Sunni nhằm tẩy chay cuộc bầu cử vào tháng Mười Hai năm 2005 để chọn ra một Hội Đồng Quốc Gia trong bốn năm để dọn đường cho một Hội Đồng Tổng Thống (gồm một tổng thống và hai phó tổng thống), một thủ tướng, và một nội các. Một yếu tố quan trọng khác trong việc quyết định đến sự tham gia của người Sunni vào cuộc bầu cử tháng Mười Hai là do một sự thay đổi đáng kể trong cơ chế bầu cử. Trong khi giữ lại cơ chế tổng thể của PR không có bất kỳ ngưỡng giới hạn nào cho sự đại diện, Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp đã chọn thời điểm này để áp dụng một cơ chế hai-tầng rất giống với đề xuất hồi Tháng Ba 2004 được đưa ra bởi những cố vấn của Iraq và cả quốc tế. Khoảng hơn 80 phần trăm số ghế (230 trên 275) đã được phân bổ cho các tỉnh là những khu vực có nhiều ứng viên, trong khi vẫn còn lại 45 ghế được dành cho những “vị trí bù đắp” lấy từ những danh sách quốc gia để đạt được tỉ lệ tổng thể. Mỗi tỉnh sẽ có một chỉ tiêu trong số 230 ghế tỷ lệ thuận với tỉ lệ số người đăng kí tham gia bỏ phiếu của tỉnh đó tính trên cả nước. Vì vậy, bất kể có bao nhiêu người thực sự đã tham gia bỏ phiếu tại các tỉnh của họ, thì những người Sunni vẫn được đảm bảo hiệu quả rằng họ sẽ có một chỉ tiêu số ghế nhất định trong Hội Đồng Quốc Gia mới.11
Theo cơ chế này, các số ghế trong Quốc hội được lấp đầy qua hai bước. Thứ nhất, số lượng phiếu bầu ở các tỉnh (trước đây gọi là các khu tự trị) được chia bởi số ghế phân bổ để tạo thành “chỉ tiêu từng khu vực.” Bất kỳ bên nào đạt được chỉ tiêu tương ứng với một ghế, và các ghế bổ sung sẽ được phân bổ tính theo bội số của chỉ tiêu. Quá trình này được lặp đi lặp lại trong mỗi tỉnh để điền vào 230 ghế trong Hội Đồng Quốc Gia được phân theo khu vực. 45 ghế còn lại sau đó được phân phối trước tiên giữa các đảng phái và các chủ thể độc lập mà chưa giành được số ghế nào ở cấp tỉnh nhưng đã tích lũy được số phiếu bầu bằng hoặc cao hơn so với “mức chỉ tiêu bầu cử quốc gia.” Mức chỉ tiêu này có được dựa vào cách chia tổng số phiếu bầu trong cả nước cho tổng số ghế của Hội Đồng Quốc Gia (275). Chỉ có một đảng có thể đạt được một ghế này thông qua quá trình bù đắp này. 44 ghế còn lại sau đó được phân bổ giữa tất cả các bên tham gia phù hợp với chỉ tiêu bầu cử của quốc gia tương ứng với từng nhóm. Việc bỏ phiếu ở ngoài nước, diễn ra ở 15 quốc gia, được xây dựng để đòi hỏi một phần số ghế này.
Ủy Ban Bầu Cử Độc Lập của Iraq (IECI) công bố vào ngày 29 tháng Mười rằng có 228 đảng phái, khối liên minh, và các tổ chức độc lập chính trị khác đã đăng ký tranh cử. Tuy nhiên, rõ ràng là từ đầu, có năm khối liên minh được cho rằng sẽ chiếm phần lớn chỉ tiêu của số ghế trong Hội Đồng Quốc Gia. Họ là UIA (đã giành được nhiều giấy ủy nhiệm Hồi giáo hơn so với sự rút lui của một số nhóm không theo tôn giáo người Shi’ite chẳng hạn như Đảng Quốc Đại Ahmad Chalabi và một nhóm trung thành với giáo sĩ gây chi rẽ người Shi’ite Muqtada al-Sadr), Nhóm Liên Đoàn Người Kurd, Nhóm phi tín ngưỡng Allawi thuộc Liên Danh Quốc Gia Iraq, và hai nhóm người Sunni – Mặt Trận Đồng Tâm Iraq và Mặt Trận Đối Thoại Quốc Gia Iraq.
Khía cạnh đáng chú ý nhất của chiến dịch này có vẻ như là sự khu vực hóa của nó. Sự hòa lưu của các dòng chảy khác biệt về địa lý và dòng chảy tôn giáo dân tộc ở hầu hết các khu vực của Iraq giúp loại trừ sự tranh chấp nghiêm trọng giữa các bên và các nhóm liên minh khác nhau trong vòng lũy ngăn cách giữa các tỉnh tương ứng của họ. Do vậy, UIA hay các nhóm Mặt trận của người Sunni đều không thực hiện vận động tranh cử trong các khu vực của người Kurd, và hầu như cũng chẳng có bất kỳ sự hiện diện của người Kurd nào ở các tỉnh của người Shi’ite và Sunni. Ngay cả ở các thành phố lớn đa sắc tộc – chẳng hạn như Baghdad, Mosul và Kirkuk – có rất ít sự giao nhau của những dòng chảy tôn giáo dân tộc. Thay vào đó, mỗi nhóm liên minh tập trung khả năng của mình cho việc củng hỗ trợ vững chắc các cơ sở riêng của mình, cùng lúc kiên trì cản trở sự xâm nhập của các nhóm liên minh khác vào khu vực của mình. Tính logic của chính trường bầu cử như một cuộc trưng cầu sắc tộc vẫn còn tiếp tục trở thành rào cản lâu dài.
Theo cách sắp đặt như thế này, thì những nhóm đánh mất lợi thế nhiều nhất là các đảng phái và các nhóm liên minh phi dân tộc và tín ngưỡng, mà khả năng thể hiện của họ trong các cuộc bầu cử phụ thuộc vào tính hiệu quả trong việc tiến hành một chiến dịch quốc gia. Chẳng hạn, nhóm Liên Danh Quốc Gia Iraq Allawi, tập hợp những nhóm phi tôn giáo tinh vi nhất và có nguồn tài chính dồi dào nhất, đụng độ phải sự phản kháng kiên quyết trong những khu vực mà được UIA xem là lãnh địa riêng của mình. Các trụ sở chính của Đảng Allawi đã bị tấn công bởi các tay súng tại Basrah và Nasiriyah, bị đánh bom ở Najaf, và nhiều nơi bị đốt cháy tại Karbala.12 Những hành vi trên không chỉ được thực hiện bởi UIA, nhưng chúng còn liên quan đến các liên minh của người Sunni và nhóm Liên Đoàn Người Kurd. Dường như khi mà một nhóm nào đó thực hiện hành vi vận động tranh cử một cách chính đáng, thì các nhóm kia xem đó như là hành vi xâm phạm bầu cử không thể chấp nhận.
Vẫn còn điều đáng lo hơn đó là một làn sóng các vụ ám sát và tấn công có vũ trang ở Baghdad và nhiều thành phố khác của Iraq. Một vài trong số các vụ này nhắm vào các chính trị gia người Sunni, những ai ủng hộ cho việc tham gia bầu cử và từ chối sử dụng bạo lực. Hai ngày sau khi có tuyên bố rằng “không tham gia vào các cuộc bầu cử sắp tới là tương đương với tội phản quốc,”13 một nhà lãnh đạo chủ chốt của nhóm Đồng Tâm đã bị bắn chết giữa thanh thiên bạch nhật ngay bên ngoài thủ đô Baghdad. Quả thật, nhóm Mặt Trận tuyên bố rằng không ít hơn mười thành viên của mình đã bị giết chết, trong đó có người đứng đầu tổ chức tại thành phố Ramadi của người Sunni.
Những thành viên của các đảng và các nhóm khác cũng bị thiệt mạng trong các cuộc tấn công cá nhân hoặc trong các cuộc thảm sát có chủ đích nhắm vào những trụ sợ chính của các đảng.14 Trong khi những mức độ đe dọa và sử dụng bạo lực trong bầu cử này hầu như hiếm khi xuất hiện trong các nền dân chủ mới thành hình, chúng đã đổ thêm dầu vào lửa của những khó khăn sẵn có bởi sự thiếu an ninh chung ở Iraq, và bối cảnh khắc nghiệt đã làm hạn chế sự đi lại của những nhà lãnh đạo các đảng phái. Họ do vậy dường như thực hiện vận động tranh cử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các phương tiện truyền thông điện tử. Các trạm vệ tinh và các đài truyền hình liên tục quảng cáo không ngừng nghỉ cho các đảng phái khác nhau; về vấn đề này, nhóm Liên Danh Quốc Gia Iraq là nhóm thích ứng nhất và có túi tiền nhiều nhất cho đến nay. Nhưng điều này đã được cân bằng bởi một rất nhiều các câu chuyện nổi bật, các cuộc phỏng vấn, và các cuộc tranh luận liên quan đến các thành viên của hầu hết các bên.
Mối quan tâm về sự thiếu an ninh, các dịch vụ cơ bản, và cơ hội kinh tế chi phối phần lớn trong các bài tranh luận của chiến dịch vận động. Sự công kích bằng lý lẽ hùng hồn nhất đến từ Iyad Allawi và các ứng cử viên cùng hội cùng thuyền với Ông, những người này cáo buộc chính phủ chuyển tiếp dẫn dắt UIA đã thiếu quyết đoán, thiếu năng lực, và tham nhũng đồng thời không ngừng lên án những căn bệnh của đất nước này – hệ thống xử lý nước thải cũ kỹ, tình trạng thiếu điện, sự khan hiếm việc làm, thiếu quan tâm đúng mực đến sức khỏe, và trên hết là tình trạng bạo lực và hỗn loạn của cuộc sống hằng ngày. Trong một bài phát biểu ngắn được báo cáo rộng rãi trước khi cuộc bầu cử diễn ra, Allawi tuyên bố rằng chính phủ “đã quá lún sâu và sự tham quyền cố vị và tham nhũng… [và] đã để lại cho Iraq sự yếu kém và chia cắt trên bờ vực của cuộc nội chiến.”15 Ông cũng thẳng thắn ngụ ý rằng một chính phủ UIA sẽ tiếp tục lấn sâu vào tình trạng giống như Iran được báo trước tại Iraq, và do đó sẽ gây ra nhiều nhóm phe phái theo một cách mà sẽ dẫn đến sự tan rã của đất nước.
Hai nhóm liên minh Sunni tập trung vào các chiến dịch tranh cử bàn về những điều được hiểu như một bước ngoặt giải quyết vấn đề an ninh: Họ công kích vào chính phủ chuyển tiếp và Bộ Nội vụ với cáo buộc đã thả lõng, hoặc ít nhất cũng đã khuyến khích, dân quân thường trực của người Shi’ite trong việc sát hại những người Sunni vô tội để trả đũa cho hành động tàn bạo của quân nổi dậy người Sunni. Hòa vang với lời cáo buộc của Allawi, các chính trị gia người Sunni cũng khơi lại bóng ma của cuộc nội chiến đẫm máu, mà họ đặt nó trực tiếp lên vai của chính phủ chuyển tiếp và thái độ bị cáo buộc mang đậm màu sắc phe phái và giáo phái của nó.
Chủ đề chính thứ hai của chiến dịch này là cuộc tranh luận về chủ nghĩa liên bang. Ngay từ lúc xuất hiện trật tự chính trị mới, những người Kurd đã làm rõ rằng cái giá cho sự sẵn lòng của họ trở thành một phần của Iraq chính là một sự chấp thuận bởi những người Shi’ite và người Sunni về một cơ cấu liên bang được thả lỏng mà theo đó người Kurd sẽ có được quyền tự trị đáng kể trong lòng Iraq. Trong khi ngay từ đầu cuộc tranh luận này đã làm nổ ra làn sóng phản đối dữ dội về vấn đề trên, nhưng không lâu sau đó sự tự trị của người Kurd vẫn diễn ra như một việc đã rồi mà ngay cả những người Sunni cũng phải miễn cưỡng chấp nhận. Nhưng cuộc tranh cãi về thể chế liên bang này lại xuất hiện với mức độ gia tăng khi thủ lãnh SCIRI và nhà lãnh đạo của UIA Abd al-Aziz Hakim đề xuất thành lập một đại khu vực của người Shi’ite bao gồm cả chín tỉnh phía Nam. Những người Sunni nhận thấy động thái này là một nỗ lực để xác nhận quyền kiểm soát 80 phần trăm nguồn dầu mỏ và khí đốt dồi dào tại Iraq nằm sâu trong vùng phía nam của người Shi’ite, và thậm chí như một điềm báo trước cho sự tan rã của Iraq. Sự tố cáo gay gắt kế hoạch này trở thành một yếu tố chính trong chiến dịch tranh cử của người Sunni.
Một vấn đề khác làm nảy sinh đụng độ giữa các bên đó là vai trò của tôn giáo trong chính trị. Đảng phi tôn giáo Liên Danh Quốc Gia Iraq kịch liệt chống lại bất kỳ động thái nào ngầm đem tôn giáo vào chính trường, và đồng thời chỉ trích trực tiếp vào nhóm Hồi Gíao Shi’ite UIA. Điều thú vị là những nhóm liên minh bầu cử người Sunni – thuộc về đảng mạnh nhất, đảng IIP, là một nhánh của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo – cũng ủng hộ việc tách rời tôn giáo ra khỏi chính trường. Rõ ràng, một nhà nước Hồi giáo của the Shi’ite variety was hardly palatable to the Sunni fundamentalists. Trong khi đó, nhóm UIA, tỏ ra sự khó chịu trong hành động bảo vệ sự không thể tách rời giữa chính trị và tôn giáo, cho rằng họ cần phải duy trì đúng với bản chất Hồi giáo của mình đồng thời trấn an những người đi bầu rằng tôn giáo sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trong nhiều yếu tố định hình nên chính trị.16
Đi đầu trong các cuộc tranh luận về vai trò của tôn giáo trong chính trị là hình ảnh của Ayatollah Vĩ Đại Sistani, giáo sĩ cấp cao và được sùng kính nhất của người Shi’ite. Trong khi vị ayatollah ẩn dật này bản thân Ông đã không đưa ra ý kiến hay phát biểu ​​gì đến công chúng trong chiến dịch tranh cử, thì các trợ thủ và đồ đệ của Ông đã làm thay điều đó, nhấn mạnh tính trung lập của Ông. Tuy vậy, điều này cũng không làm cho UIA và các nhóm người Shi’ite khác ngừng lợi dụng Sistani cho lý lẽ của họ bằng cách gọi tên Ông, tuyên bố trung thành với Ông, và đưa hình ảnh của Ông lên các tấm áp phích – một thực tế cay đắng đã bị lên án bởi các nhóm khác, đặc biệt là các thành viên trong nhóm Liên Danh Iraq.
Cuối cùng, chiến dịch tranh cử đã chứng kiến nhiều tài liệu có liên quan đến “sự chiếm đóng” Iraq do Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh khác thực hiện. Nhưng chủ đề này chưa bao giờ kỳ vọng có khả năng sẽ trở thành vấn đề nóng bỏng có thể gây tiếng vang trong chiến dịch. Không bên nào ủng hộ sự chiếm đóng không có ranh giới xác định, và tất cả họ đều cam kết sẽ đàm phán với Hoa Kỳ về thời gian ra hạn cho sự lui quân, có xét đến những hạn chế hiện tại. Tự nhiên mà nói, các đảng phái của người Sunni có sức kiên trì bền bỉ nhất, nhưng ngoài trừ Hội Đồng Các Học Giả Hồi Giáo tiên khởi – đã từ chối tham gia trong cuộc bầu cử khi Iraq đang còn bị chiếm đóng – thì không có đảng nào từng có một chủ trương nhằm thúc đẩy sự rút lui của Hoa Kỳ ngay lập tức.
Mặc dù bạo lực và sự chia rẽ dần ngấm ngầm vào chiến dịch tranh cử, nhưng những người Iraq đi bỏ phiếu với một nhận thức rõ ràng về các nhóm liên minh chính đang hướng tới vấn đề quan trọng nào. Cuộc tranh luận bầu cử nhìn chung đang được hấp thụ và đồng thời khá phức tạp, cho thấy rằng nó có tác động đến hành vi bỏ phiếu của người dân. Tuy vậy, khi những người đi bầu cuối cùng cũng đã bỏ phiếu, họ sau hết cũng đã chuyển sang lòng trung thành ban đầu của mình nhiều như họ từng làm trong các cuộc bầu cử ngày 30 tháng Một.
Hơn 12 triệu người Iraq – đại diện cho con số hơn 77 phần trăm những người tham gia bỏ phiếu đã đăng kí – vào ngày 15 tháng Mười Hai.17 Hai tỉnh của người Sunni, Salah al-Din và Anbar, ba tỉnh của người Kurd Erbil, Duhok, và Sulaymaniya, và tỉnh Kirkuk với đa số là người Kurd có lượng người tham gia bỏ phiếu là cao nhất (84 phần trăm trở lên). Lượng người đi bầu trung bình tại chín tỉnh của người Shi'ite giảm xuống dưới con số quốc gia còn 71 phần trăm, cùng với Baghdad là một trong những khu vực có số người tham gia bỏ phiếu là thấp nhất, tuy vẫn giữ được ở mức độ 70 phần trăm.
Để đảm bảo sự thanh liêm của các cuộc bầu cử, IECI đã triển khai 126.125 giám sát viên ở tất cả 18 tỉnh. Ngoài 949 quan sát viên quốc tế, các đảng phái và liên minh chính trị tự đưa ra 272.295 đặc phái viên khác tại 31.348 điểm bỏ phiếu trên toàn quốc. Như lời nhận xét của trưởng ban phụ trách bầu cử: “Cuộc bầu cử này đã nhận được nhiều sự quan sát nhất trên toàn thế giới.”18
Tuy nhiên, khi một phần kết quả được công bố vài ngày sau khi cuộc bầu cử diễn ra, cho thấy sự chiến thắng của UIA, một cơn mưa khiếu nại đã bùng phát cáo buộc gian lận tràn lan tại Baghdad và các khu vực của người Sunni. Hàng ngàn người biểu tình đã xuống đường tố cáo IECI và cáo buộc nhóm này có hành vi tương tự UIA. Sức ép trở nên mãnh liệt hơn khi IECI tránh công bố kết quả đầy đủ cuối cùng cho đến khi một ủy ban quốc tế, đã đến Baghdad vào cuối tháng Mười Hai, xem qua 1.985 khiếu nại nhận được từ IECI. Ủy ban quốc tế đã công bố rằng các vi phạm đó đã thực sự xảy ra, nhưng chỉ là một phần nhỏ và sẽ không ảnh hưởng đến sự phân bổ cuối cùng vào những ghế trong Hội Đồng. Do đó, kết quả cuối cùng và đầy đủ được công bố vào ngày 17 tháng Một năm 2006 và được chứng thực vào ngày 10 tháng Hai, xác nhận một lần nữa cả hai chiến thắng của UIA và vai trò mạnh mẽ của tôn giáo trong cuộc bỏ phiếu này (Bảng 1).
Các kết quả cho thấy một ưu thế rõ ràng về lòng trung thành tôn giáo dân tộc. Bất cứ hy vọng nào về việc mọi người sẽ bỏ phiếu để tách biệt tôn giáo ra khỏi chính trị hoặc để vượt qua các khe nứt dân tộc đều phải phá sản. Mong muốn, rõ ràng đã được ấp ủ bởi chính quyền Bush, về một biểu hiện quyền lực của nhóm phi tôn giáo Liên Danh Iraq sẽ củng cố vai trò thương lượng của Allawi – hoặc thậm chí cho phép Ông nổi lên như một nhân vật trung tâm trong liên minh phi tôn giáo – đã bị tan vỡ khi đảng này cuối cùng chỉ đạt được khoảng 8 phần trăm số phiếu bầu, mất gần một nửa số ghế mà họ đã có được trong cuộc bầu cử hồi tháng Một năm 2005. Sự đánh giá về nhân vật tôn giáo dân tộc thông qua cuộc bầu cử thì tốt hơn nên được quan sát chỉ khi nó được tiến hành ở cấp tỉnh. Như Bảng 2 cho thấy, UIA chiếm ưu thế bầu cử tại chín tỉnh của người Shi'ite ở phía Nam, thắng 70 trên 81 số ghế của khu vực.19 Hai liên danh của nhóm người Kurd (phi tôn giáo và Hồi giáo) cùng giành được tất cả 35 ghế tại Kurdistan. Và liên danh của người Sunni thắng 15 trong tổng số 17 ghế ở tỉnh Anbar và Salah al-Din của người Sunni.
Vì sao sự thay đổi trong cơ chế bầu cử không có tác dụng rõ ràng làm giảm đi yếu tố tôn giáo trong cuộc bỏ phiếu? Có ít nhất ba lý giải khả thi sau. Đầu tiên, các khu vực bầu cử đã được xác định rõ ràng qua các cuộc bầu cử vào ngày 30 tháng Một và qua cơ chế bầu cử cũ. Kết hợp tất cả lại đã tiết lộ cho chúng ta bản chất của chính phủ và chính trị kể từ sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein, các cuộc bầu cử tháng Một đã tạo nên động lực như thế đối với màu sắc chính trị mà đang bị đòi hỏi quá nhiều về một cơ chế bầu cử phân theo khu vực nhằm tạo ra nhiều thay đổi. Thứ hai, điều mà ta có thể mong đợi về cơ chế PR dựa trên khu vực để hỗ trợ bầu cử cho các ứng cử viên địa phương và độc lập. Tuy nhiên, trong bối cảnh bạo lực lan rộng, một loạt ứng viên quan trọng thậm chí không chịu tiết lộ danh tín của họ, chỉ cung cấp thông tin thuộc đảng phái và liên minh nào.
Thứ ba, liên danh duy nhất vượt qua sự bất đồng sâu nặng về tôn giáo và dân tộc của đất nước này thuộc về một chính trị gia, Iyad Allawi, người từng làm Thủ tướng lâm thời đã phải gánh chịu hầu hết các sai sót trong sự làm việc không hiệu quả mà sau đó ông lên án chính phủ chuyển tiếp UIA, và những người bị bêu xếu như một cựu Ba'athist và đã trả tiền cho CIA. Điều này nhấn mạnh rằng, khi những áp lực và sức ép tiềm ẩn có được sức mạnh và sức phòng thủ, thì một sự thay đổi trong cơ chế bầu cử có thể giúp phần nào vượt qua các khó khăn trong tương lai gần.
Các Tổ Chức Ban Hành Chính Sách Mới
Vì không có bên nào đạt được phần lớn số ghế sau cuộc bầu cử, nên các thành viên được bầu ra trong Hội Đồng Quốc Gia sẽ phải vượt qua những dòng chảy tôn giáo dân tộc để có thể đưa ra quyết định về một vấn đề gì đó. Trong thực tế, tỉ lệ hai phần ba (184 trên tổng số 275 thành viên) là con số cần thiết để các biểu quyết quan trọng được đưa ra. Trước hết, không một chính phủ nào có thể được thành lập cho đến khi hai phần ba thành viên Hội Đồng Quốc Gia đồng thuận với tất cả các ứng cử viên cho vị trí Hội Đồng Tổng Thống. Hơn nữa, để xây dựng một liên minh hiệu quả, các yếu tố khác cũng cần phải được xem xét hơn là chỉ thông qua những con số. Chẳng hạn như, nỗi ám ảnh về các phiến quân đã khiến cho các yêu cầu của người Sunni có trọng lượng hơn so với 55 số ghế của họ. Mặc dù tất cả các bên đều biết rõ rằng người Sunni phải có chân trong chính phủ, nhưng một vấn đề khó khăn sau khi cuộc bầu cử diễn ra đó là làm thế nào để cân bằng việc phân bổ các vị trí trong nội các chính phủ giữa các nhóm liên minh có triển vọng. Sự tranh cãi cho thấy sự khác biệt rõ ràng trong những nguyện vọng và địa vị của các bên khác nhau: Trong khi người Sunni bàn về một chính phủ quốc gia thống nhất, với ngụ ý về sự bình đẳng giữa mọi nhóm liên minh, thì UIA lại nhấn mạnh một sự cân bằng trong chính phủ chỉ dựa trên kết quả bầu cử.20 Vì mục đích đạt được sự thành công trong sự quản lý và hoạch định chính sách có hiệu quả, những thỏa hiệp quan trọng trên tất cả các mặt sẽ cần phải được thực hiện và tuân thủ, không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà còn trong suốt nhiệm kỳ bốn năm của Hội Đồng Quốc Gia.
Một yếu tố giúp gia tăng việc hình thành các nhóm liên minh đó là, trong khi các liên danh đảng phái khác nhau có vẻ khá giống nhau với những vấn đề liên quan đến bản sắc, thì giữa họ lại có sự khác biệt trên nhiều mặt khác. UIA là trường hợp đặc biệt đáng chú ý về phương diện này. Trong khi chủ nghĩa Hồi giáo Shi’ite là yếu tố tạo nên bốn nhóm cử tri chính – SCIRI, al-Da'wah, al-Fadhilah, và Sadrists – thì những căng thẳng cá nhân, sự ganh đua theo dòng lịch sử, và những khác biệt về chính sách đang len lỏi trong mối quan hệ của họ. Thực ra, al-Fadhilah đã tuyên bố rút ra khỏi UIA vào ngày 01 tháng Mười Một, với lý do không hài lòng về một số chính sách và cách xử lý vấn đề trong việc phân bổ số ghê trong Hội Đồng Quốc Gia của Hakim. Họ cuối cùng chỉ còn gắn kết một phần nào đó với UIA chỉ vì IECI đã không chấp nhận yêu cầu của họ.21
Sự khác biệt xuất hiện sau cuộc bầu cử là khi al-Fadhila bàn về khả năng thương lượng với nhóm Allawi, có vẻ đã phá vỡ sự đồng thuận của UIA và điều này đã phải nhận khiển trách nặng nề từ Sadrists.22 Không có điều nào làm ảnh hưởng đến mối quan hệ huynh đệ vững vàng giữa SCIRI và Sadrists. Sadrists, bất mãn với cách hành xử ra vẻ của Hakim như đầu não quan trọng của UIA, chỉ trích Ông vì đã thương lượng với những người Kurd sau cuộc bầu cử, gọi đó là “một nỗ lực cá nhân không xứng đáng với phước lành từ UIA.”23 Sadrists dường như có cùng quan điểm rõ rệt với các nhóm Hồi giáo dòng Sunni, và như vậy họ không ủng hộ ý tưởng về một khu vực ghép từ 9 tỉnh của người Shi’ite. Hơn nữa, các lực lượng của SCIRI và Sadr đã đụng độ đẫm máu trong thời gian qua.
Sự chia rẽ trong các nhóm khác có thể không được công bố công khai, nhưng điều đó là có thật. Điều này sẽ không xảy ra một khi sự hợp tác của hai nhà lãnh đạo người Kurd, Barzani và Talabani, và các đảng của họ vẫn đứng vững trước thử thách của thời gian, hoặc một khi hai khối Sunni vẫn chắc chắn sẽ bỏ phiếu cho nhau và kiềm chế những khác biệt chính trị và tránh gia nhập vào liên minh khác. Do đó, có một số khả năng trong Hội Đồng Quốc Gia mới này sẽ nảy sinh thêm các nhóm liên minh chính trị khác, vì có thêm các vấn đề mới xuất hiện cùng với những lợi ích quyền lực đang chờ đợi được phân chia. Với sự may mắn của thời vận và năng lực quản lý chính trị khéo léo, có khả năng Iraq sẽ dần dần rời xa sự phân cực sắc tộc và tôn giáo ở mức độ cao xảy ra trong năm vừa trải qua, “năm bầu cử ngặt nghèo.” Khả năng kiểm soát và làm giảm sự phân cực này của các chính trị gia và các đảng phái, thông qua đàm phán và hứa hẹn, sẽ có nhiều khả năng quyết định không chỉ trong phạm vi của sự phát triển dân chủ mà thậm chí còn có khả năng giữ vững sự thống nhất của Iraq.

[Dịch xong] - Chương 12 - BẦU CỬ TRONG XÃ NỘI NÔNG NGHIỆP



BẦU CỬ TRONG XÃ NỘI NÔNG NGHIỆP
Joel D. Barkan là giáo sư danh dự về khoa học chính trị tại trường Đại học Iowa và chuyên viên cấp cao tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington D.C. Tác phẩm của ông phần nhiều bàn về dân chủ và cải cách kinh tế ở Đông Phi, và các cuộc bầu cử tại châu Phi. Hiện tại, công việc của ông trong lĩnh vực này tập trung vào các ứng dụng công nghệ GIS nhằm giải quyết các vấn đề của quy trình thiết kế bầu cử và được báo cáo trên số ra tháng 11 năm 2006 của tạp chí Khoa học Chính trị Hoa Kỳ.
Bài viết này xuất hiện lần đầu tiên trên số ra tháng 10 năm 1995 của Tạp chí Dân chủ.
Sự kiện gần đây liên quan đến quá trình chuyển đổi  sang nền dân chủ tại Namibia và Nam Phi đã khiến những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ (PR) càng có cơ hội khẳng định một cách mạnh mẽ rằng hệ thống bầu cử này là hệ thống thích hợp nhất đối với các xã hội đa sắc tộc ở châu Phi và nhiều khu vực khác nữa. Tương tự với nội dung đã được trình bày bởi Andrew Reynolds và trước đó là Arend Lijphart, lập luận của họ cũng bao gồm 4 yếu tố quan trọng. Đầu tiên, bầu cử đại diện theo tỷ lệ là hệ thống “công bằng nhất”, giúp bầu ra các thành viên nắm quyền trong các cơ quan lập pháp quốc gia - đặc biệt khi so sánh với công thức bầu cử các lập pháp viên từ các đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) - vì hệ thống này đảm bảo rằng tỷ lệ phần trăm số ghế giành được bởi một đảng chính trị là gần như tương đương với tỷ lệ phần trăm số phiếu phổ thông. Do vậy, có thể hạn chế được sự mất cân bằng và lạm dụng số lượng thành viên và quyền hạn trong cơ quan lập pháp: bên nhận được nhiều hơn hay đa số phiếu bầu sẽ có quyền đại diện tương đương với bên nhận được ít phiếu bầu hơn, và các bên giành được ít phiếu bầu vẫn có cơ hội đại diện tương đương với quyền biểu quyết của họ. Có thể thấy, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ cũng có khả năng bảo vệ lợi ích thiểu số.
Thứ hai, bầu cử đại diện theo tỷ lệ có tính bao quát, vì hệ thống này đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia hệ thống chính trị nếu có tiềm năng thì hoàn toàn có khả năng được đại diện trong cơ quan lập pháp. Do vậy, hệ thống này giúp gia tăng triển vọng rằng tất cả các bên sẽ hỗ trợ trật tự hiến pháp bằng cách tham gia vào cuộc bầu cử và các tổ chức chủ chốt. Sự hỗ trợ này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu của việc nền dân chủ mới hoặc vừa cải tổ gần đây, khi không có các thể chế trật tự hiến pháp mới hoàn chỉnh. Thứ ba, bầu cử đại diện theo tỷ lệ tạo điều kiện cho các thỏa thuận về một nền dân chủ có sự chia sẻ về quyền lực hay liên minh lớn giữa chính quyền và các đảng phái, cho phép hầu hết các lực lượng chính trị tham gia vào hoạt động cai trị. Thứ tư – hay cũng có thể nói rằng: lợi ích cuối cùng này là hệ quả rút ra từ ba lợi ích trên – hệ thống bầu cử này giúp tăng cường triển vọng dân chủ trong xã hội đa sắc tộc vẫn đang tồn tại phân chia giai cấp chính trị sâu sắc, phản chiếu sự chia rẽ về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Mặc dù những ví dụ thực tế gần đây tại khu vực Nam Phi có vẻ như đang giúp hệ thống bầu cử này thắng thế, thì những ưu điểm của hệ thống này - đặc biệt là đối với các khu vực còn lại của châu Phi và những xã hội tương tự khác – lại không được thể hiện ra một cách rõ ràng dứt khoát. Trong các xã hội nông nghiệp, ở đó đại đa số người dân phải kiếm kế sinh nhai từ đất đai, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ lại không đưa ra được kết quả bầu cử "công bằng hơn" hay tổng quát hơn các cuộc bầu cử theo đa số dựa trên các đơn vị bầu cử một thành viên. Do vậy, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ không phải là tính năng cần thiết cho một chính phủ liên minh mà chỉ là một phương pháp tối ưu hóa việc chia sẻ quyền lực trong ngành hành pháp.
Hệ thống bầu cử này có các nhược điểm hết sức nghiêm trọng, một trong số đó cần được đặc biệt quan tâm trong bất cứ hoạt động thiết kế hiến pháp cho xã hội nông nghiệp trong tương lai. Bởi theo các hình thức đơn thuần nhất của ghế lập pháp áp dụng hệ thống này được phân bổ từ danh sách các đảng theo tỷ lệ của mỗi bên trong tổng số phiếu quốc gia, các nghị sĩ hoạt động cá nhân không xác định và cũng không chịu trách nhiệm trước các cư dân của một cử tri địa lý cụ thể. Tuy nhiên, trong các xã hội nông nghiệp, sự thiếu liên kết giữa các đại diện và các cử tri đã làm giảm đáng kể những triển vọng của hoạt động củng cố dân chủ.
Hành vi bỏ phiếu trong quần thể nông thôn
Trong xã hội nông nghiệp, với mức chuyên môn nghề nghiệp và bản sắc giai cấp thấp, hầu hết cư dân đều xác định lợi ích của họ và phân chia bản sắc trên cơ sở nơi sinh sống, chứ không phải dựa trên hoạt động. Họ gắn bó chặt chẽ với khu vực cư trú và mối quan tâm đối với các nước láng giềng. Khi bầu cử, họ tập trung vào các nhu cầu cơ bản của cộng đồng địa phương và khu vực xung quanh mình – rằng liệu họ sẽ có cơ sở vật chất đầy đủ, từ nguồn nước sinh hoạt, trường học, cho tới chăm sóc y tế hay không, rằng liệu có thể có sẵn lưu thông tiện lợi từ nhà đến chợ hay không, rằng liệu giá sản xuất các mặt hàng nông nghiệp phát triển trong khu vực có mang lại lợi nhuận hợp lý cho nông dân địa phương hay không... Cư dân của một khu vực nông thôn nói riêng thường có chung các lợi ích chính trị, và họ bỏ phiếu vì các dựa trên nhu cầu lợi ích đó. Điều này giải thích cho mức độ bỏ phiếu tập trung cao theo khu vực địa lý của các bên tham gia vòng bầu cử đa đảng gần đây tại châu Phi. Ngoại trừ cư dân đô thị tới từ nhiều vùng miền khác nhau và có xu hướng ý thức mạnh mẽ về bản sắc nghề nghiệp và giai cấp, những cư dân sống trong cùng một khu vực thường bỏ phiếu cho một đảng chính trị giống nhau. Trong xã hội nông nghiệp, người ta đánh giá các bên và các ứng cử viên dựa trên tiềm năng, hoặc hồ sơ hoạt động trước đây, hay các hoạt động tranh cử.
Tuy nhiên, hệ thống bầu cử theo đại diện không đáp ứng được kỳ vọng này của các cử tri. Các nghị sĩ vừa không chịu trách nhiệm giải quyết các nhu cầu của các địa phương cụ thể, mà ở đây còn do sự nghiệp chính trị của họ phụ thuộc chủ yếu vào việc đáp ứng vai trò lãnh đạo của đảng mà họ thuộc về, vì điều này quyết định thứ hạng của họ trong danh sách các bên dành cho cuộc bầu cử tiếp theo. Trong xã hội nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi, việc sử dụng hệ thống bầu cử này đe dọa sự phát triển mà Goran Hyden đã đúc kết thành thuật ngữ "trạng thái treo" – trạng thái bị tách khỏi dân số, và cuối cùng mất đi quyền hạn và khả năng cai trị của mình.
Công thức bầu cử và dân chủ hóa
Dân chủ hóa xoay quanh sự phát triển đồng thời của hai mối quan hệ khác nhau: 1) đại diện của các công dân thông qua lãnh đạo mà họ lựa chọn, là mối quan hệ đặc trưng bởi đối thoại và trách nhiệm; và 2) sự khoan dung, thương lượng và thỏa hiệp giữa các nhóm chính trị đối lập. Mối quan hệ đầu tiên kết nối giới tinh hoa và tầng lớp phi tinh hoa có cùng mối quan tâm chính trị, và tạo thành “chiều dọc” của nền dân chủ. Mối quan hệ thứ hai xảy ra giữa các nhà lãnh đạo của lợi ích đối lập, và tạo nên “chiều ngang” của nền dân chủ.
Trong suốt quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ và trong quá trình củng cố dân chủ, tầm quan trọng tương đối của hai chiều kích này không giống nhau. Vì những quá trình chuyển tiếp liên quan đến việc thành lập một trật tự hiến pháp mới phải được chấp nhận bởi tất cả các phe phái liên quan, do vậy, các quá trình này được đánh dấu bằng các cuộc thương lượng gay gắt giữa các các phe tinh hoa đối lập. Ở giai đoạn này, tính chất của đại diện hầu như không được chú trọng. Việc các tầng lớp tinh hoa chủ chốt bước lên bàn đàm phán thay mặt cho các cử tri của họ hoàn toàn là điều dễ hiểu. Ví dụ, trong các cuộc đàm phán trong quá trình chuyển đổi của Nam Phi với dân chủ, hầu như không có bất cứ câu hỏi nào được đặt ra đối với mức độ hoạt động phát biểu đại diện cho vị thế và file của Đại hội Dân tộc Phi của Nelson Mandela và Cyril Ramaphosa hay FW de Klerk và Roelf Meyer với Đảng Dân tộc.
Mặt khác, quá trình hợp nhất là một quá trình dài hạn, và trong suốt quá trình này, hoạt động thực hành dân chủ dần dần được thể chế hóa. Thật vậy, có thể nói rằng quá trình hợp nhất sẽ kéo dài vĩnh viễn, bởi mục tiêu tồn tại của nền dân chủ, các thế hệ công dân và giới tinh hoa kế tiếp buộc phải tái khẳng định các cam kết với quá trình này. Do đó, quá trình hợp nhất đòi hỏi sự hoàn bị liên tục của cả bề ngang và bề dọc của nền dân chủ, và bất cứ công thức bầu cử nào không có khả năng duy trì cả hai bề ngang dọc đều sẽ làm suy yếu triển vọng dân chủ trong thời gian dài. Vì thế, rõ ràng là hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ có cả lợi thế và bất lợi. Hệ thống này vừa tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sang thể chế dân chủ trong các xã hội đa sắc tộc, nhưng lại ngăn cản quá trình hợp nhất trong xã hội nông nghiệp khi thất bại trong việc duy trì cấu trúc dọc của nền dân chủ.
Các trường hợp thực tế tại Nam Phi đã cung cấp một bằng chứng hết sức đáng kể về thiếu sót cơ bản của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, và đã làm dấy lên lời kêu gọi bãi bỏ hoặc sửa đổi hệ thống này. Hệ thống này được sử dụng tại Namibia trong cuộc bầu cử toàn dân tộc đầu tiên của đất nước này vào tháng 11 năm 1989. Mục đích của các cuộc bầu cử này là thành lập một Quốc hội Lập hiến, mà sau này gọi là Quốc hội nói chung (hay còn gọi khác là Hạ Viện) nhân ngày Namibia tách ra khỏi Nam Phi vào tháng 3 năm 1990. 72 ghế trong Quốc hội được phân bổ trên nền tảng số phiếu toàn quốc của các đảng tham gia – nói cách khác, là số phiếu mỗi đảng trong một đơn vị cử tri quốc gia. Biến số tương tự của hệ thống bầu cử theo đại diện được sử dụng cho kỳ bầu cử Nghị viện lần thức hai diễn ra vào tháng 12 năm 1994. Trong khoảng thời gian giữa hai kỳ bầu cử trên, người dân Namibia đã bầu ra 13 hội đồng khu vực (vào tháng 11 năm 1992) từ 95 đơn vị bầu cử một thành viên. Mỗi hội đồng lần lượt bầu ra hai thành viên của mình vào vị trí trong Thượng Viện, Hội Đồng Quốc Gia. Kết quả bầu cử đều theo chỉ thị.
Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi SWAPO đã giành được 57,3% và 73,9% số phiếu bầu trong hai đợt bầu cử Nghị viện đầu tiên, và đã nắm quyền cai trị kể từ thời điểm khu vực này giành độc lập. Đảng đối lập lớn mạnh nhất, Liên Minh Turnhalle Dân chủ DTA giành được 28,6% số phiếu năm 1989 và 20,8% vào năm 1994, trong khi Đảng Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF chỉ giành được 5,6% và 2,7%. Số phiếu Việc sử dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ dẫn tới sự phân bổ số ghế cho mỗi Đảng tương đương với tỷ lệ phần trăm số phiếu bầu mà mỗi Đảng nhận được.
Với hơn 2/3 số ghế trong Quốc Hội, Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi được trao quyền cải tổ hiến pháp Namibia. Do vậy, bản thân hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã không thể cung cấp đủ đại diện thiểu số để ngăn chặn sự thay đổi Hiến pháp mà có nguy cơ gây hại tới lợi ích của nhóm thiểu số. Chẳng những hệ thống bầu cử này không đảm bảo được sự hiện diện của đại diện thiểu số trong cơ quan lập pháp – tính chất thiết yếu của một nền dân chủ có sự liên minh giữa chính quyền và các đảng phái. Thay vào đó, đây là sự tự chủ của chính phủ do nhóm đa số nắm quyền của Tổng thống Sam Nujoma, cùng với áp lực quốc tế, phải chịu trách nhiệm bảo vệ các lợi ích của nhóm thiểu số, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản của dân da trắng tại Namibia. Sự tự chủ và cam kết cho một chính sách hòa giải dân tộc cũng dẫn tới việc bổ nhiệm các thành viên của đảng đối lập vào các vị trí nhỏ lẻ trong chính phủ và các vị trí hành pháp nói chung.
Đáng nói nhất là việc các nhóm thiểu số ủng hộ cho Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA và  Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF sẽ no worse off và có thể sẽ better off khi áp dụng hệ thống bầu cử dựa trên hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên . Vì số phiếu bầu trong các cuộc bầu cử Nghị viện năm 1994 được cả thảy 95 đơn vị cử tri tại mỗi hội đồng khu vực lập thành bảng kê và báo cáo, do đó, việc dự đoán sự phân bổ ghế trong Quốc hội hoàn toàn khả thi nếu các cuộc bầu cửa áp dụng công thức bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMDs. Kết quả cho thấy Tổ chức Dân tộc Nam Phi giành được đa số phiếu bầu tại 64% trên tổng số 95 quận, Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA giành được 29% và Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất UDF giành được 3,2%. Do vậy, việc áp dụng hệ thống bầu cử nào cũng cho ra kết quả phân bổ ghế Quốc hội tương đương nhau. Phe ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ khẳng định: hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên over-represents các đảng giành được nhiều hơn hay đa số phiếu bầu, tuy nhiên, trường hợp của Namibia lại cho thấy rằng hệ thống này cũng có thể underrepresent đảng đa số và do vậy khả năng bảo vệ quyền lợi các nhóm thiểu số sẽ tốt hơn hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ.
Ví dụ, Liên minh Dân chủ Turnhalle DTA – đảng bao gồm cộng đồng người da trắng và các dân tộc thiểu số của Namibia – chỉ giành được 20,8% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 1994, nhưng lại “thắng” được 29,5% số ghế nếu mỗi quận councilmanic bầu được đại diện vào vị trí lập pháp. Hơn nữa, các hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMDs có thể diễn ra suôn sẻ để giảm thiểu (hoặc duy trì) sự chênh lệch giữa số phiếu và số ghế mà mỗi bên giành được, như giải thích dưới đây:
Trường hợp tại Namibia cũng cho thấy thất bại của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ trong việc cung cấp đại diện thích hợp cho các cư dân trong xã hội nông nghiệp. Các cuộc phỏng vấn vào tháng 7 năm 1994 do tôi và hai đồng nghiệp cùng thực hiện với 36 nhân vật trong hội đồng khu vực liên tục cho thấy các thành viên Quốc hội hiếm khi xuất hiện tại các khu vực nông nghiệp, vì họ không có cử tri đại diện tới các nơi mà họ vận động bầu cử. Chính các nhân vật trong hội đồng khu vực – chính xác vì họ được bầu ra từ những hội đồng bầu cử định nghĩa theo khu vực địa lý và có thể tiếp xúc trực tiếp với các cử tri trong quận của mình – họ là những người mà cư dân của khu vực ấy tin tưởng chia sẻ những vấn đề cá nhân hay các vấn đề của cộng đồng xung quanh họ. Điều này cũng không gây ra nhiều sự ngạc nhiên. Trong các xã hội nông nghiệp, nơi mà hầu hết các cư dân đều là những nông dân quen đi bộ, hay di chuyển bằng xe đạp hoặc phương tiện công cộng, đại diện hiệu quả nhất lại dựa trên những tiếp xúc trực tiếp ở ngay làng quê hay các thị trấn nhỏ.
Hiển nhiên là sự khác biệt trong chất lượng đại diện giữa hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ và hệ thống dựa trên đơn vị bầu cử quận/huyện đang trở thành vấn đề mang tính chính trị tại Namibia và trong lòng Tổ chức Dân tộc Nam Phi. Vì sự thất bại của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ trong việc tạo điều kiện cho các cuộc đối thoại liên tục giữa thành viên Nghị viện và cư dân nông nghiệp, các thành viên hội đồng khu vực mong muốn chấm dứt việc áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ trong các cuộc bầu cử Quốc hội, cũng như việc giảm thiểu quyền lực của các hội đồng khu vực. Một số tin rằng việc thay đổi từ hệ thống trên thành hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMDs sẽ cho phép họ có đủ khả năng đối chất thành công với các thành viên Quốc hội đương nhiệm trong kỳ bầu cử Nghị viện sắp tới. Cũng với các lý do này, các thành viên Quốc hội đương nhiệm và lãnh đạo Tổ chức Dân tộc Nam Phi lại lên tiếng phản đối việc thay đổi hệ thống bầu cử. Sự bất đồng về cách tiếp cận trong bầu cử cũng phản ánh vấn đề về “khoảng cách thế hệ”: tuổi đời của thành viên hội đồng có xu hướng thấp thành viên Quốc hội từ 5 tới 10 tuổi. Sự phân cách này có thể sẽ ngày càng sâu sắc hơn theo thời gian diễn ra các cuộc bầu cử tiếp theo trong năm 1999.
Chưa tới một năm sau các cuộc bầu cử toàn dân đầu tiên tại Cộng hòa Nam Phi vốn được thực hiện dưới các phiên bản “two-tier” của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, các thiếu sót của hệ thống bầu cử này đã dẫn tới những lời kêu gọi tương tự tại các quận huyện tại quốc gia này. Dưới hệ thống dân chủ của Cộng hòa Nam Phi, 200 ghế trong Quốc hội đã được phân bổ dựa trên số phiếu bầu trên toàn quốc, và 200 ghế được phân bổ dựa trên số phiếu bầu ở mỗi khu vực trong tổng số 9 khu vực tất thảy. Phiên bản này của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã dần tới việc mỗi đảng đều giành được tỷ lệ ghế tương đương với tỷ lệ số phiếu bầu, và các đảng lớn nhất đều bảo đảm phần tham gia vào quốc hội lớn tương đương với số phiếu mà họ nhận được. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, sự vắng mặt của liên kết các đại diện giữa các cá nhân thành viên Quốc hội và các cử tri địa lý cụ thể là hết sức rõ ràng. Nhận ra được bất lợi này của hoàn cảnh, vào tháng 10 năm 1994, ANC đã tuyên bố về sự thành lập một hệ thống không chính thức đại diện dựa trên khu vực bầu cử bằng cách phân công các thành viên Quốc hội và bộ trưởng nội các tới các khu vực được chỉ định và hỗ trợ tài chính để họ duy trì sự hiện diện của mình tại các địa điểm đó. Trong lịch sử, ANC ủng hộ hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMDs, nhưng sau đó đã đã thay đổi vị trí để ủng hộ hệ thống bầu cử hiện tại khi tính toán rằng bản thân Đảng này sẽ không gặp phải mất mát gì khi áp dụng hệ thống bầu cử theo đại diện. Đảng Dân Tộc cũng tuyên bố phần nào quay trở lại bầu cử theo hệ thống dựa trên khu vực cử tri vào năm 1999.
Lãnh đạo của hai đảng lớn nhất Nam Phi cảm thấy hài lòng khi kêu gọi chấm dứt hoặc thay đổi hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, phần lớn là do họ đã đi đến kết luận rằng một công thức bầu cử dựa trên khu vực cử tri cũng sẽ vẫn đưa ra kết quả cực kỳ tương đồng, đồng thời cũng không phải gánh chịu những bất lợi của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Các đảng nhỏ như Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi PAC, Đảng Dân Chủ DP và Đảng Mặt trận Tự do FF có thể bị gạt sang một bên nếu hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMDs được áp dụng, trong khi vị thế của Đảng Tự do Inkatha IFP dựa trên khu vực thì hoàn toàn không gặp trở ngại gì. Cũng có vẻ như Đảng Dân tộc NP vốn ủng hộ cho quá trình chia sẻ quyền lực sau năm 1999 nhận ra rằng sự sắp đặt như vậy không cần đến hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Thật vậy, sự sắp đặt chia sẻ quyền lực hiện tại tại Cộng hòa Nam Phi không dựa trên bản thân hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ mà trên số ghế mà mỗi bên giành được trong Quốc hội. Nếu công thức bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên thu được khả năng phân bổ sát sườn số ghế như hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ thì hoàn toàn có thể duy trì được nền dân chủ có sự liên minh lớn giữa chính quyền và các đảng phái.
Sự phân bổ số ghế tương đương
Trớ trêu là một số bằng chứng tốt nhất về sự tương đồng trong việc phân bổ ghế lập pháp khi áp dụng hệ thống bầu cử từ các đơn vị bầu cử một thành viên SMD và hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã được đưa ra bởi Andrew Reynolds, một người ủng hộ trung thành của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Trong một bài viết giá trị mà ông mô tả lại các cuộc bầu cử gần đây tại Nam Phi và Malawi, Reynolds cho thấy rằng sự lựa chọn của công thức bầu cử trong xã hội nông nghiệp hầu như không có ý nghĩa bằng sự luwaja chọn xảy ra trong xã hội công nghiệp hiện đại. Các dữ liệu của Reynolds cùng số liệu mà tôi thu thập được về các cuộc bầu cử Nghị viện gần đây nhất tại Kenya và Namibia, được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng dữ liệu trên trình bày kết quả của bốn cuộc bầu cử trong bốn nước tại châu Phi: Nam Phi (tháng 4 năm 1994), Namibia (tháng 12 năm 1994), Malawi (tháng 5 năm 1994), và Kenya (Tháng 12 năm 1992). Các cuộc bầu cử của Cộng hòa Nam Phi và Namibia đều áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ; còn Malawi và Kenya thì áp dụng hệ thống còn lại. Bảng dữ liệu trên cho phép so sánh tỷ lệ phần trăm số ghế mà mỗi bên thực sự giành được theo công thức bầu cử sử dụng cho các cuộc bầu cử với tỷ lệ phần trăm số phiếu, cũng như với các tỷ lệ phần trăm số ghế mà đảng đã giành được khi áp dụng công thức bầu cử thay thế . Như vậy sự phân bố của ghế giành được khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ ở Nam Phi và Namibia có thể được so sánh với sự phân bổ thu được đó sẽ khi áp dụng hệ thống bầu cử còn lại; trong khi sự phân bổ ghế giành được thông qua hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên tại Malawi và Kenya có thể được so sánh với số phiếu mà các bên giành được – tỷ lệ phần trăm tương đương với hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Dữ liệu cho hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên được thể hiện trong một hoặc cả hai phiên bản thực tế (như đã xảy ra ở Malawi và Kenya) và kết quả ước lượng (đối với Nam Phi, Namibia, và Kenya) nếu tất cả các huyện có cùng số lượng cử tri. Cuối cùng, bảng đưa ra Chỉ số Chênh lệch Tỷ lệ (ID) cho mỗi công thức chịu trách nhiệm tính toán sự phân bổ ghế, cũng như cho các cuộc bầu cử gần đây trong bốn nền dân chủ tiên tiến có sử dụng hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên. Chỉ số chênh lệch tỷ lệ càng gần con số 0, công thức bầu cử càng có khả năng biến chính xác tỷ lệ số phiếu của mỗi bên trở nên tương đương với tỷ lệ số ghế. Do đó, chỉ số chênh lệch tỷ lệ càng cao, tỷ lệ chênh lệch của kết quả thu được càng lớn. Chỉ số chênh lệch tỷ lệ thông thường dao động từ cận 0 cho tới 20.
SỰ PHÂN BỔ SỐ GHẾ & SỐ PHIẾU BẦU KHI ÁP DỤNG HỆ THỐNG BẦU CỬ ĐẠI DIỆN THEO TỶ LỆ (PR) VÀ HỆ THỐNG BẦU CỬ DỰA TRÊN ĐƠN VỊ BẦU CỬ MỘT THÀNH VIÊN (SMDS)
Kỳ bầu cử
Đảng
Tỷ lệ phiếu bầu
Tỷ lệ ghế trong Quốc hội
Hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ - danh sách quốc gia (PR)
Hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) hiện tại
Hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên (SMDs) tương đương1
Cộng hòa Nam Phi (tháng 4 năm 1994)
Đại hội Dân tộc Phi (ANC)
62,7
63,0
-
70,8
Đảng Dân Tộc (NP)
20,4
20,5
-
17,0
Đảng Tự do Inkatha (IFP)
10,5
10,8
-
20,3
Đảng Mặt trận Tự do (FF)
2,2
2,2
-
-
Đảng Dân Chủ (DP)
1,7
1,8
-
-
Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi (PAC)
1,3
1,3
-
-
Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (ID)
-
0,3
-
6,7
Namibia (tháng 12 năm 1994)
Tổ chức Dân tộc Nam Phi (SWAPO)
73,9
73,6
67,4
73,9
Liên minh Dân chủ Turnhalle (DTA)
20,8
20,8
29,5
23,9
Mặt trận Dân tộc Thống Nhất (UDF)
2,7
4,2
3,2
2,2
Khác
3,1
1,4
-
-
Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (ID)
-
1,1
7,7
2,2
Malawi (tháng 5 năm 1994)
Mặt trận Dân tộc Thống Nhất (UDF)
46,4
-
48,0
-
Đảng Quốc hội Malawi (MCP)
33,7
-
31,6
-
Liên minh Dân chủ châu Phi (AFORD)
18,9
-
20,3
-
Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (ID)
-
-
2,1
-
Kenya (tháng 12 năm 1992)
Liên đoàn Quốc gia Phi châu Kenya (KANU)
29,7
-
53,2
44,6
Liên minh Dân chủ FORD – A
24,2
-
16,5
22,3
Liên minh Dân chủ FORD – K
20,8
-
16,5
17,0
Đảng Dân chủ (DP)
22,2
-
12,2
15,4
Khác
3,1
-
1,6
0,5
Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (ID)
-
-
19,1
12,0
Chỉ số chênh lệch tỷ lệ (trung bình) trong các nền dân chủ cụ thể sử dụng hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên SMDs
Canada
11,3
New Zealand
10,7
Anh
10,5
Mỹ
5,4

Chú thích:
1. Dữ liệu về Cộng hòa Nam Phi dựa trên kết quả các kỳ bầu cử được báo cáo tại 341 quận, như trình bày trong bài nghiên cứu “Tái hiện các kỳ bầu cử Quốc hội tại Cộng hòa Nam Phi và Malawi năm 1994 dưới ảnh hưởng của công thức hệ thống bầu cử thay thế” trong cuốn “Bầu cử và giải pháp cho các tranh chấp liên quan tại châu Phi” của các tác giả Timothy Sick và Andrew Reynolds (Washington D.C.: Viện Nghiên cứu Xuất bản vì Hòa bình Hoa Kỳ, đang trong thời gian xuất bản).
Dữ liệu về Namibia dựa trên kết quả các kỳ bầu cử được báo cáo tại 95 quận đã được điều chỉnh về các biến số dân cư giữa các quận. Dữ liệu về Kenya dựa trên kết quả các ky bầu cử được báo cáo tại 188 khu vực bầu cử Quốc hội được điều chỉnh về các biến số dân cư giữa các quận. Dữ liệu về các nền dân chủ hiện hành do Arend Lijphart, “Các hệ thống bầu cử và hệ thống các đảng” (New York: Nhà xuất bản trường Đại học Oxford, 1994), trang 160 – 162.
Lưu ý thêm: Dữ liệu về tỷ lệ phần trăm không phải lúc nào cũng tròn 100% tùy vào từng vòng
Bảng dữ liệu nhấn mạnh ba điểm cơ bản. Đầu tiên, ngoại trừ trong trường hợp của Kenya, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ và hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên đều cho ra khả năng phân bổ ghế tương đương. Cả hai công thức đều hoàn thành nhiệm vụ điều chỉnh tỷ lệ phần trăm số phiếu tương đương với tỷ lệ phần trăm số ghế. Thứ hai, nếu việc thu được kết quả theo tỷ lệ là mục đích chính của cuộc bầu cử, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ sẽ là phương pháp tốt hơn. Tuy vậy, theo lập luận ở trên, sự điều chỉnh số phiếu thành số ghế theo phép toán không đảm bảo việc thiết lập một quá trình đại diện liên tục hậu bầu cử. Khi nói đến chất lượng của đại diên, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên lại là công thức vượt trội. Do vậy, câu hỏi đặt ra là liệu sự ưu việt của đại diện do hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên đưa ra có đáng giá trị của một biến chuynrê khiêm tốn trong việc điều chỉnh số phiếu thành số ghế hay không.
Thứ ba, những khiếm khuyết của hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên đã được giảm nhẹ khi tất cả các quận huyện có cùng số lượng cử tri. Tại Namibia, số lượng cử tri trung bình mỗi huyện là 5.236 người, nhưng số lượng cử tri tại các huyện councilmanic hiện đã tăng từ 1.051 người lên đến 13.592 người. Ở đây, một hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên dựa trên các quận huyện có kích thước bằng nhau sẽ cho kết quả chỉ số chênh lệch tỷ lệ thấp ngang với hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ hiện thời. Một hệ thống như vậy cũng sẽ làm giảm mức độ chênh lệch tỷ lệ ở Kenya, nơi số lượng cử tri đăng ký trung bình mỗi huyện là 25.544 người, nhưng thực tế số lượng có tăng lên từ 2.872 đến 65.887 người. Trong khi các chỉ số chênh lệch tỷ lệ không thấp như ở Namibia, thì lại gần bằng chỉ số này ở một vài nền dân chủ tiên tiến. Quan trọng nhất, việc chia thành các quận huyện có kích thước bằng nhau ở Kenya sẽ gây đảo ngược cho yếu tố thiếu sót nghiêm trọng nhất của hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên hiện tại (trừ việc "bảo vệ" lợi ích thiểu số của các thiểu số nhỏ nhất và ít phát triển nhất tại Kenya): nhóm đa số của một đảng chỉ nhận được có 30% số phiếu. Việc tạo ra nhiều quận huyện nhỏ gọn hơn sẽ giúp làm giảm mức độ chênh lệch tỷ lệ liên quan tới hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên.
Giải thích về chênh lệch tỷ lệ
Mức chênh tỷ lệ phụ thuộc không quá nhiều vào sự lựa chọn công thức bầu cử mà phụ thuộc trên ba biến số khác: 1) mức độ tập trung hoặc phân tán của các cử tri của các bên khác nhau về địa lý; 2) mức độ biến động về số lượng cử tri mỗi huyện; và 3) số lượng và sự linh động của các quận huyện bầu cử. Đây là lý do tại sao, trong hoàn cảnh xã hội nông nghiệp, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên mang lại (hoặc có thể được thiết kế để mang lại) sự phân bổ ghế tương đương với khả năng của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ.
Như đã giải thích ở trên, các cử tri trong xã hội nông nghiệp có xu hướng bỏ phiếu theo nhóm địa lý có độ đồng nhất cao. Kết quả là, hoàn toàn không hề bất thường nếu như các bên giành được tới 90% số phiếu trong một số khu vực và chỉ giành được 10 – 15% số phiếu trong các khu vực khác. Những gì được coi là hệ thống đa nguyên trong thực tế lại là một tập hợp các hệ thống đơn nguyên theo khu vực. Malawi và Namibia là những ví dụ gần như hoàn hảo của xu hướng này. Ngược lại, hệ thống đa nguyên trong các xã hội công nghiệp tiên tiến được đặc trưng bởi sự phân tán về địa lý của cuộc bầu cử. Mặc dù mỗi đảng đều có một khu vực “bành trướng” riêng nhưng, mức độ “bành trướng” không thể so sánh với mức độ cai trị tại các nước đang phát triển, vì hầu hết các khu vực trong một nước đều tìm mọi cách để thu hút cử tri từ khắp các phe phái chính trị. Các nước công nghiệp mới (NICs) rơi vào đâu đó ở giữa hai thái cực này, vận hành một mô hình bỏ phiếu theo khối ở nhiều vùng nông thôn kết hợp với nhiều mẫu không đồng nhất ở những nơi khác.
Xã hội càng có tính thuần nông, tỷ lệ tập trung phiếu bầu theo khu vực địa lý sẽ càng cao hơn và sự phân bổ số ghế khi áp dụng hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên sẽ càng có xu hướng gần với sự phân bổ tổng số phiếu bầu, cũng như sự phân bổ của ghế có thể thu được khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Ngược lại, xã hội càng công nghiệp hóa bao nhiêu, số phiếu bầu sẽ càng phân tán theo khu vực địa lý bấy nhiêu, và khoảng cách giữa sự phân bổ số ghế và sự phân bổ số phiếu sẽ càng lúc càng lớn. Tóm lại, hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể tạo ra chỉ số chênh lệch tỷ lệ thấp trong xã hội nông nghiệp, nhưng sẽ tầm trung tới cao trong xã hội công nghiệp hóa. Hơn nữa, mức độ chênh lệch tỷ lệ kết hợp với hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể được giảm thiểu bằng cách tạo ra nhiều quận huyện, do đó khiến tất cả các quận huyện nhỏ gọn hơn. Điều này làm tăng mức độ đồng nhất xã hội trong tất cả các quận huyện, và do đó có thể giúp gia tăng phạm vi ủng hộ của người dân đối với nguyên một đảng bất kỳ.
Vì những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ và nền dân chủ có liên minh lớn giữa chính quyền và các đảng phái như Arend Lijphart có xu hướng tập trung kiểm định hệ thống bầu cử trong các nền dân chủ tiên tiến và sau đó là các xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp, hiển nhiên là họ đã thất bại trong việc đánh giá cao khả năng tạo ra kết quả tương đương của hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên và hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ tại các nước phát triển. Vì cùng một lý do, họ cũng không nhạy cảm với mức độ mà hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên trong xã hội nông nghiệp có thể được sửa sang để làm giảm độ chênh lệch tỷ lệ. Sau cùng, những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ chưa hề xem xét cách thức tiếp cận quy trình bầu cử của các cử tri nông thôn một cách toàn diện. Những người ủng hộ hệ thống bầu cử này coi nhẹ tầm quan trọng của đại diện dựa trên khu vực địa lý, bởi trong một xã hội bị chi phối bởi lợi ích nhóm hay chính trị corporate, đại diện kiểu này không còn cần thiết trong quá trình duy trì một trật tự hiến pháp dân chủ.
Thừa nhận sự cần thiết của đại diện địa lý, Andrew Reynolds đã lập luận rằng một hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ được sửa đổi dựa trên các quận huyện đông dân cư sẽ giúp khắc phục thiếu sót chính của hệ thông trong xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu một hệ thống như vậy tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa người dân và các đại diện, các đơn vị quận huyện nên có kích thước và số dân nhỏ hơn để giảm thiểu số lượng đại diện tại mỗi quận huyện tới một mức nào đó khi việc phân bổ ghế dựa trên các nguyên tắc về tỷ lệ sẽ sẽ không còn cần thiết nữa hoặc không khả thi nữa. Ví dụ, nếu hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ được sửa đổi để phân bổ từ ba đến sáu ghế trong một loạt các quận huyện đông dân cử nhỏ lẻ, điều này hoàn toàn bình thường. Việc phân bổ một số lượng ghế nhỏ như vậy có thể cho ra các kết quả với tỷ lệ thấp hơn so với các hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên, và chắc chắn sẽ ít hơn so với việc áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ thông thường.
Những người ủng hộ hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ và những người bảo vệ quan điểm về hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có nguy cơ không thật sự quan tâm tới những gì đối phương đang phát biểu. Trong thực tế, mỗi công thức đều thích hợp cho riêng một nhóm phần tử của hệ thống chính trị, nhưng không nhất thiết phải thích hợp cho toàn bộ hệ thống. Đối với xã hội nông nghiệp – đặc biệt là tại châu Phi, châu lục kém phát triển nhất thế giới, và việc quay trở lại thể chế dân chủ đang diễn ra tại giai đoạn hết sức quan trọng – hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên có thể chưa cung cấp được yếu tố cấu thành quan trọng của nền dân chủ, đặc biệt là với quá trình hợp nhất: vị thế đại diện hiệu quả. Trong bối cảnh này, bất kỳ lời kêu gọi thay thế hệ thống bầu cử dựa trên đơn vị cử tri bằng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ nào đều còn quá sớm.
 
Blogger Templates