Arend Lijphart
Arend Lijphart là giáo sư danh dự về khoa học
chính trị tại Đại học California, San Diego. Ông là tác giả của công trình “Những
mô hình dân chủ: Hình thức của chính phủ và Hiệu lực ở 36 quốc gia” (“Patterns
of Democracy: Government Forms and Performance in Thirty–Six Countries”) (1999)
và nhiều công trình nghiên cứu khác về các thể chế dân chủ, việc quản lý các xã
hội chịu sự chia rẽ sâu sắc, và các hệ thống bầu cử. Bài viết này xuất hiện lần
đầu tiên trên Tạp chí Dân chủ (Journal Of Democracy) số phát hành mùa
hè năm 1991.
***
Trong bài viết “Lựa chọn hiến pháp cho những nền
dân chủ mới” (Constitutional Choices for New Democracies), tôi đã trình bày hệ
thống các bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa hiệu suất tương đối của
các biến số khác nhau trong những hệ thống dân chủ, nhằm kết tập những tuyên bố
và phản biện mơ hồ và bất định thường trỗi dậy xung quanh chủ đề này. Tôi đã so
sánh bốn nền dân chủ nghị viện với hệ thống đầu phiếu đa số (Vương quốc Anh,
Canada, Úc và New Zealand) với chín nền dân chủ nghị viện với hệ thống đầu phiếu
đại diện tỷ lệ (proportional represenation) (Đức, Ý, Áo, Hà Lan, Bỉ, và bốn quốc
gia Bắc Âu – Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan) dựa trên hiệu suất được ghi nhận đối với các tiêu chí liên quan đến
tính đại diện và khả năng bảo vệ những nhóm thiểu số, chất lượng của nền dân chủ,
khả năng duy trì trật tự công và an ninh, cùng với khả năng quản lý nền kinh tế.
Tôi nhận ra rằng trong những trường hợp xuất hiện
sự chênh lệch giữa hai nhóm nhà nước dân chủ nêu trên thì nền dân chủ nghị viện với hệ thống
đầu phiếu đại diện tỷ lệ đạt được hiệu suất tốt hơn. Qua đó, giữa hai hệ thống này có sự
khác biệt khá lớn, đặc biệt các khía cạnh liên quan đến tỷ lệ đại diện của các
nhóm thiểu số (được xác định bởi tỷ lệ đại diện nữ giới trong nghị viện quốc
gia), khả năng bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu số (được xác định bởi chính
sách gia đình mang tính sáng tạo), chất lượng của nền dân chủ (được xác định bởi
lượng cử tri đi bầu), và khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp. Hai hệ thống này không có sự khác biệt to
lớn nào về tình trạng bất bình đẳng thu nhập và khả năng kiểm soát lạm phát, và
có rất ít hoặc hầu như không có sự khác biệt nào liên quan đến khả năng duy trì
trật tự công (được xác định bởi mức độ bạo loạn và tỷ lệ tử vong do bạo lực chính
trị) cũng như mức tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, dựa trên điểm nhìn truyền thống
– nhưng vẫn khôn khéo – hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ có thể tương đối vượt
qua hệ thống đầu phiếu đa số trong tiêu chí liên quan đến nguyện vọng của các
nhóm thiểu số nhưng lại dẫn đến việc đưa ra quyết định kém hiệu quả. Thậm chí kể
cả những phát hiện của tôi về những khác biệt nhỏ hoặc không có sự khác biệt nào
về một số tiêu chí liên quan đến hiệu suất đối với hai thể chế này cũng nghiên
về cấu trúc dân chủ đầu phiếu đại diện tỷ lệ.
Guy Lardeyret và Quentin L. Quade, hai nhà biện
luận hùng hồn với sự thông thái trong lĩnh vực kinh điển này, đã đề ra một loạt
luận điểm phản đối chuỗi phân tích và kết luận của tôi – đó là thách thức rất
đáng hoan nghênh vì họ đã cho phép tôi có cơ hội nhận diện lại tính hợp lệ đối với các bằng chứng mà tôi đưa ra. Lardeyret và
Quade cho rằng: 1) sự khác biệt trong hiệu suất của chính phủ có thể được giải
thích bởi các yếu tố đứng ngoài hình thái của nền dân chủ, và vì thế những trường
hợp này không thể chứng minh được tính ưu việt của thể chế dân chủ nghị viện với
hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ; 2) khi xét đến tác động quan trọng khác của
các loại thể chế dân chủ, hệ thống đầu phiếu đa số tương đối luôn vượt trội hơn;
3) một số phát hiện của tôi là do kết quả đo đạt không chính xác; và 4) phát hiện
của tôi mang tính thiên vị bởi những bất cập trong việc tôi lựa chọn và phân loại
các quốc gia để đưa vào chuỗi phân tích. Tuy nhiên, tôi sẽ chứng minh rằng đến
khi tất cả những luận điểm phản đối của họ được kiểm tra trong thực tế thì chính
những luận điểm ấy lại có vấn đề.
Những
cách giải thích khác
Ở đây, tôi đồng ý với lập luận của Quade và
Lardeyret rằng sự thành công trong kinh tế không chỉ được xác định bởi chính
sách của chính phủ; và tôi đã từng viết nhiều về đề tài này ngay trong bài viết
đầu của tôi. Rõ ràng có nhiều yếu tố bên ngoài và ngẫu nhiên có ảnh hưởng đến
hoạt động kinh tế của một quốc gia. Tôi cũng đồng ý với lập luận của Quade rằng
một số yếu tố đặc biệt đã ảnh hưởng tiêu cực đối với nước Anh. Mặt khác, chính
một số quốc gia với hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ đã phải hứng chịu
những thất bại tương tự: Hà Lan và Bỉ cũng là những đế quốc thực dân khá lớn đã
bại trận, cơn “địa chấn xã hội – tâm lý” đã tạo nên cú sốc giải phóng thuộc địa
mà nước Anh phải chịu đựng không hề kém nghiêm trọng hơn cú sốc của nước Đức sau
khi bại trận và bị chia cắt, và xung đột sắc tộc cũng đã cản bước đường phát
triển của Bỉ, cũng như vùng văn hóa Celtic ở ngoại vi Vương quốc Anh. Nhưng tôi
không chỉ so sánh giữa nước Anh với một hoặc nhiều nước theo hình thức đầu phiếu
đại diện tỷ lệ. Tôi so sánh một nhóm gồm bốn nền dân chủ nghị viện với hình thức
bầu cử đầu phiếu đa số tương đối với nhóm gồm chín quốc gia dân chủ nghị viện với
hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ. Tôi đã giả định rằng khi hoạt động kinh tế của
nhóm các nền dân chủ này được kiểm tra trong một thời gian dài, và khi tất cả
các nước được nghiên cứu có trình độ phát triển kinh tế ngang nhau, tác động của
những ảnh hưởng bên ngoài và ngẫu nhiên có xu hướng sẽ bộc lộ. Trong trường hợp
không có bất cứ luận điểm chính đáng nào cho rằng, trong một nhóm, tập thể các nền
dân chủ nghị viện với hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ đã hưởng lợi thế kinh tế
bất thường từ năm 1960 đến năm 1980, và ngay cả Lardeyret và Quade cũng không đề
ra luận điểm phản đối nào trong trường hợp này, nên những giả định và khám phá
của tôi về sự khác biệt trong hoạt động kinh tế vẫn còn hiệu lực.
Lardeyret và Quade đã đề cập đến một số vấn đề
có thể làm cơ sở cho cách giải thích khác: các điểm đặc thù của nhóm các nước Bắc Âu, lợi thế của việc sở hữu một chế độ
quân chủ lập hiến, các sự khác biệt giữa hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ trung
tính và cực đoan, và lợi thế từ chiếc ô quân sự của Hoa Kỳ. Tất cả những vấn đề
đều có thể được kiểm tra bằng thực nghiệm. Ở đây, Lardeyret tuyên bố rằng tỷ lệ
thất nghiệp ở các nước Bắc Âu đã bị đánh giá thấp vì “nhóm công việc được bảo hộ
cao” và tình trạng bất bình đẳng thu nhập khá khiêm tốn vì nét đặc thù của phe
bảo thủ luôn tìm cách tạo xung lực ở các quốc gia này. Để xác nhận xem liệu các
yếu tố này có thể thay đổi phát hiện của tôi hay không, chúng ta có thể kiểm
tra một cách dễ dàng bằng cách tạm thời loại trừ các nước Bắc Âu ra khỏi chuỗi
phân tích, và so sánh các nước dân chủ nghị viện với hệ thống bầu cử đại diện tỷ
lệ không thuộc nhóm nước Bắc Âu với nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối. Tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở các nước Bắc Âu
thực sự thấp hơn so với các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu – 2,7 phần trăm
so với 5,7 phần trăm – nhưng tỷ lệ 5,7 phần trăm này vẫn tốt hơn một chút so với
tỷ lệ thất nghiệp 6,1 phần trăm ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức
đầu phiếu đa số tương đối. Xét trong giả định sự bất bình đẳng thu nhập là có
liên quan đến phân tích trên thì ở đây hầu như không có sự khác biệt giữa các
nước Bắc Âu và các nước không thuộc nhóm nước Bắc Âu nhưng đều theo thể chế dân
chủ nghị viện và sử dụng hình thức đầu phiếu đại diện tỷ lệ – 39,0 phần trăm so
với 38,9 phần trăm – và tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập tương ứng của cả hai nhóm
nước này đều thấp hơn con số 42,9 phần trăm – tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập trong
các thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối.
Khi chúng ta so sánh chế độ quân chủ với chế độ
cộng hòa, có một trọng điểm đầu tiên cần phải được lưu ý. Nếu hình thái thể chế
quân chủ lập hiến là một lợi thế, thì tất cả các nước theo thể chế dân chủ nghị
viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối đều được hưởng lợi thế này,
trong khi chỉ có khoảng một nửa các nước dân chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu
phiếu đại diện tỷ lệ hưởng lợi như vậy. Trọng điểm thứ hai là khi chúng ta so
sánh các nước quân chủ (Bỉ, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch) với các nước dân
chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đại diện tỷ lệ (Đức, Ý, Áo và Phần
Lan), tốc độ tăng trưởng của họ hầu như giống nhau và tỷ lệ lạm phát của họ
cũng giống hệt nhau. Chỉ có tỷ lệ thất nghiệp thì khác biệt đôi chút: nhóm các
nước theo thể chế quân chủ có tỷ lệ thất nghiệp trung bình 4,0 phần trăm, thấp
hơn so với con số 4,9 phần trăm ở nhóm các nước không theo thể chế quân chủ. Như
vậy, một lần nữa, tỷ lệ phần trăm sau vẫn còn tốt hơn so với mức trung bình 6,1
phần trăm ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương
đối. Đối với tiêu chí về khả năng đại diện và bảo vệ quyền lợi của các nhóm thiểu
số, có sự khác biệt nhỏ giữa nhóm các nước quân chủ và phi quân chủ, nhưng cả
hai nhóm này đều cho thấy tình hình tốt hơn các nước dân chủ nghị viện sử dụng
hình thức đầu phiếu đa số tương đối[1].
Liệu gót chân Achilles trong chuỗi phân tích về
ưu thế của các nước sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ có bị vạch
trần khi chúng tôi tập trung vào nhóm nước đầu phiếu đại diện tỷ lệ mang tính cực đoan (Ý, Hà Lan, Đan Mạch và Phần Lan)
và đối chiếu chúng với các nước đầu phiếu đại diện tỷ lệ trung tính hơn (Đức,
Thụy Điển, Na Uy, Bỉ và Áo)? Ở đây, các bằng chứng thực nghiệm đã bác bỏ luận
điểm này. Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp trong nhóm nước theo đầu phiếu đại diện
tỷ lệ cực đoan quả thực cao hơn so với nhóm nước theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ trung
tính (7,4 phần trăm và 5,5 phần trăm so với 5,4 phần trăm và 3,6 phần trăm)
nhưng vẫn thấp hơn một chút so với mức 7,5 phần trăm và 6,1 phần trăm trong nhóm
các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối; còn tốc
độ tăng trưởng của các nước này hầu như giống hệt nhau. Trên bốn tiêu chí về khả
năng đại diện và chất lượng của nền dân chủ, sự khác biệt cũng tương đối nhỏ,
và cả hai nhóm nước theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ vẫn dẫn trước nhóm nước dân
chủ nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối. Niềm tin của riêng của
tôi thì vẫn dành cho nhóm nước theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ trung tính, nhưng
đừng phóng đại sự nguy hiểm của nhóm nước theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ cực đoan.
Như Quade đã chỉ ra rất chính xác, các nước theo
thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ đã có được lợi
thế phát triển dưới “sự bảo trợ quân sự của Hoa Kỳ”, nhưng vậy thì đừng quên rằng
có bốn quốc gia theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số
tương đối cũng đứng dưới bóng chiếc ô ấy. Thực tế là chỉ có một số trường hợp
ngoại lệ nhỏ trong nhóm các nước theo thể chế đại diện tỷ lệ: tuy theo quan điểm
trung lập nhưng Thụy Điển vẫn đầu tư vào vũ trang càng tạo ra thêm những chi
phí quân sự nặng nề, và Phần Lan thì phải chịu đựng những áp lực ở ngay đường
biên giới giữa thế giới phương Tây và Liên bang Soviet. Tuy nhiên, về tổng thể,
chính sách bảo hộ quân sự của Hoa Kỳ đã đem lại lợi ích tương đương nhau cho cả
13 nước theo thể chế dân chủ nghị viện, và do đó không thể giải thích sự khác
biệt nào trong tương quan hồ sơ của các nước này.
Những tiêu
chuẩn và khả năng phân loại khác
Một phần nhằm bổ sung cho lý thuyết, và một phần
nhằm thay thế nhóm biện pháp tôi sử dụng để đánh giá hiệu suất đối với các mô
hình dân chủ khác nhau, Lardeyret và Quade cho rằng các mô hình dân chủ cần phải
được đánh giá bởi các tiêu chí như trách nhiệm giải trình, sự ổn định của chính
phủ, khả năng ra quyết định, và khả năng tránh “hiện tượng bầu cử lặp lại”. Thực
ra, có một số bất trắc trong các đề xuất này. Đầu tiên, quả thực vấn đề trách
nhiệm chắc chắn là một phẩm chất quan trọng của chính phủ dân chủ, nhưng phẩm
chất này lại không thể được đo lường một cách khách quan.
Thứ hai, thực tế cho thấy hình thái chính phủ
liên minh không hề tỏ ra thiếu trách nhiệm hay thiếu minh bạch hơn hình thái
chính phủ một đảng cầm quyền. Cách Quade mô tả liên minh cầm quyền như một
chính phủ “được hợp thành từ những mảnh vụn sau một quá trình bầu cử mờ ám hợp
thời vận hành bởi những cuộc thương lượng ngầm” có thể đúng cho một số rất ít
trường hợp ngoại lệ như Israel (không chỉ thuộc nhóm nước theo thể chế đại diện
tỷ lệ cực đoan mà còn sở hữu những cử tri chia rẽ và phân cực), nhưng đối với hầu
hết các nước sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ thì nhận định này là một sự
phóng đại đến nực cười. Trong thực tế, một khi chính phủ liên minh được hình thành,
cấu trúc này có xu hướng hoạt động ổn định, và thậm chí còn ít bí mật và tỏ ra cởi
mở hơn so với hình thái thể chế một đảng cầm quyền.
Thứ ba, sự ổn định của chính phủ có thể được đo
bằng thời gian hoạt động trung bình của nội các. Trên cơ sở các số liệu thu thập
được trước đó, chuỗi tính toán của tôi cho thấy quãng thời gian hoạt động trung
bình ở các nước theo thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số
tương đối thực tế còn nhiều hơn gấp đôi quãng thời gian tương ứng ở các nước
dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ [2]. Theo như Lardeyret giả định,
thời gian tại vị dài hơn có nghĩa quyết định của chính phủ sẽ có trọng lượng
hơn vì thời gian hoạt động lâu dài của nội các. Nhưng khi một chính phủ liên
minh thay đổi họ thì họ thường không thay đổi triệt để như chính phủ của các thể
chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ. Chính Lardeyret
đã thừa nhận điều này khi ông than phiền về “nhiệm kỳ dài một cách bất thường của
các chính trị gia quan trọng vì quyền lợi của nhóm lợi ích” ở những quốc gia theo
đại diện tỷ lệ.
Thứ tư, nếu luận điểm của Lardeyret đúng về ưu
thế trong khả năng ra quyết định của chính phủ các nước dân chủ nghị viện sử dụng
hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, thì bằng chứng thuyết phục duy nhất cho ý
tưởng này là quyết định của chính phủ các nước này thường dẫn đến chính sách hiệu
quả hơn. Ở đây, chính vấn đề này đưa chúng ta trở lại với tiêu chí đánh giá hiệu
suất của chính phủ dựa trên khả năng xây dựng thành công các chính sách kinh tế
vĩ mô và khả năng duy trì được trật tự công. Như tất cả chúng ta có thể thấy, bằng
chứng vững chắc nhất này lại không hiện diện ở bất kỳ quốc gia nào theo thể chế
dân chủ nghị viện và sử dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối.
Cách Lardeyret phê phán về mức độ bầu cử lặp lại
không cần thiết xảy ra thường xuyên trong nhóm các nước dân chủ nghị viện sử dụng
hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ còn đề ra một biện pháp bổ sung hữu dụng
nữa để xác định hiệu lực của nền dân chủ – đáng mừng thay là phương pháp này có
thể được đo lường và thử nghiệm dễ dàng. Trong giai đoạn kéo dài 29 năm, từ năm
1960 đến năm 1988, cùng thời gian mà hai trong số ba chỉ báo kinh tế của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được xác lập, các nước dân chủ nghị viện sử
dụng hình thức đầu phiếu đa số tương đối đã tổ chức trung bình 10,0 lần bầu cử
hợp lệ ở cấp quốc gia, so với mức trung bình 8,8 lần bầu cử ở các nước dân chủ
nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ[3]. Rõ ràng, tần số các cuộc
bầu cử ở các nước theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ thấp hơn các nước sử dụng hình
thức bầu cử đa số tương đối, một sự thực trái với khẳng định Lardeyret, mặc dù
sự khác biệt ở đây cũng không đáng kể. Tuy nhiên, về căn bản, giả thuyết của
Lardeyret đã bị bác bỏ hoàn toàn bởi thử nghiệm đơn giản này.
Lardeyret và Quade chỉ có một vài bất đồng về
phép đo của tôi. Một truy vấn mà Lardeyret đã đề xuất hướng đến lượng cử tri đi
bầu: lượng cử tri tham dự bỏ phiếu ở Hoa Kỳ sẽ cao hơn đáng kể nếu tính theo tỷ
lệ cử tri đã đăng ký. Ông ấy đã hoàn toàn đúng về điểm này, nhưng tất cả các
con số về lượng cử tri tôi sử dụng là số tỷ lệ phần trăm của người bỏ phiếu – nghĩa
là tất cả các nước đều được đối chiếu một cách bình đẳng. Hơn nữa, nếu con số cử
tri đi bầu được sử dụng như một thước đo cho chất lượng của nền dân chủ, thì
chính số liệu thấp ở Hoa Kỳ không chỉ phản ánh mức độ cao bất thường về sự thờ
ơ chính trị, mà cả “thực tế” là chính phủ đã cố tình hạn chế người dân sử dụng quyền
biểu quyết bằng cách tạo ra thủ tục đăng ký phiền hà.
Còn Quade thì hoài nghi biểu thức của tôi về “số
lượng phụ nữ làm việc trong cơ quan lập pháp và khả năng đại diện cho nguyện vọng
của nữ giới.” Nhưng tôi không hề đánh đồng hai khái niệm này: Tôi đã sử dụng một
phép đo riêng (tính đổi mới và tính bao quát trong chính sách gia đình, vốn là
những mối quan tâm đặc biệt của người phụ nữ) để kiểm tra xem phải chăng lợi
ích của nữ giới đã được đảm bảo tốt hơn trong nhóm các nước theo đầu phiếu đại
diện tỷ lệ, và thực nghiệm cho thấy đúng là như vậy.
Cuối cùng, Lardeyret truy vấn về việc tôi đã sử
dụng bảng xếp hạng chất lượng nền dân chủ của Robert Dahl, bởi tính chất thiên
vị hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ của công cụ này. Tôi đã thừa nhận lý
thuyết này có phần thiên vị ngay trong bài viết ban đầu của tôi, nhưng tôi vẫn
quyết định sử dụng bảng xếp hạng Dahl vì đây vẫn là công cụ xếp hạng tổng thể
được xây dựng cẩn thận nhất mà chúng ta có sẵn. Tuy nhiên, cũng vì hệ quy chiếu
này rõ ràng thiếu khách quan hơn so với các tiêu chí khác của tôi, tôi sẽ không
nhấn mạnh vào việc sử dụng công cụ này làm bằng chứng.
Quade đã chỉ trích cách tôi phán xét theo hướng
có lợi cho mô hình nhà nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu đại
diện tỷ lệ bằng cách trình bày một số ví dụ cho thấy đầu phiếu đại diện tỷ lệ đã
hoạt động sai cách, đặc biệt là hai trường hợp thường được xem là thất bại kinh
điển của nền dân chủ: nền Cộng hòa Weimar và nền Đệ tứ Cộng hòa của Pháp. Không
ai có thể phủ nhận thất bại của nền Cộng hòa Weimar, nhưng thực chất, hình thức
bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ không phải là yếu tố phải chịu trách nhiệm chính
cho sự sụp đổ của nền cộng hòa này, và hệ thống đầu phiếu đa số tương đối cũng chưa
chắc là công cụ có thể cứu vãn nền Cộng hòa Weimar. Hơn nữa, bản thân Cộng hòa Weimar
là một chế độ bán tổng thống chứ không phải là một chế độ nghị viện.
Còn ở Pháp, nền Đệ tứ Cộng hòa thực sự đã không
làm tròn trách nhiệm, nhưng một lập luận hợp lý sẽ chỉ ra rằng chỉ cần những cải
cách tương đối nhỏ trong khuôn khổ nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu
phiếu đại diện tỷ lệ đã có thể giải quyết vấn đề, và giải pháp thay đổi triệt để
chế độ nghị viện sang chế độ bán tổng thống, cũng như chuyển từ hình thức bầu cử
đầu phiếu đại diện tỷ lệ sang hình thức bầu cử đa số tương đối hoàn toàn không
cần thiết. Vả lại, ví dụ cho những thất bại của hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ
lệ thực chất không hề vượt trội so với những ví dụ về sự thất bại của hệ thống đầu
phiếu đa số tương đối, điển hình là thất bại của nền dân chủ ở Tây Phi. Sir
Arthur Lewis, người từng là cố vấn kinh tế cho chính phủ ở đây, đã phải thừa nhận
rằng “con đường chắc chắn nhất để thủ tiêu các ý tưởng dân chủ” trong những xã
hội bị chia rẽ như vậy “là lựa chọn du nhập hoàn toàn hệ thống bầu cử kiểu Mỹ Ănglê,
nghĩa là kiểu bầu cử kẻ – chiến – thắng có tất cả [chính là nguyên tắc của hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối]”[4].
Lardeyret đã không đặt ra nghi vấn về cách tôi tập
trung vào nhóm các nước dân chủ ổn định đương đại, nhưng thay vào đó lại lập luận
cho trường hợp của các quốc gia cần được phân loại riêng. Mặc dù nền chính trị ở
Pháp không hẳn là chế độ tổng thống, cũng không hoàn toàn sử dụng hình thức bầu
cử đa số tương đối, tôi vẫn đồng ý với đề xuất của ông ấy rằng: về cả hai
phương diện, quốc gia này đã đủ tiêu chuẩn để được xếp loại cùng cấp với Hoa Kỳ.
Tôi cũng đồng ý rằng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thuộc nhóm nước dân chủ nghị viện
sử dụng hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ, nhưng dữ liệu khả dĩ so sánh vẫn còn
thiếu, bởi hai nước này vẫn chưa hoàn toàn dân chủ trong giai đoạn mà những bằng
chứng thực nghiệm của tôi có thể khái quát hết. Nhưng tôi không đồng ý với luận
điểm cho rằng nước Đức không thuộc nhóm các nước sử dụng hình thức bầu cử đầu
phiếu đại diện tỷ lệ, và cần được phân loại như một nước trong hệ thống sử dụng
hình thức bầu cử đa số tương đối. Quốc gia này đã gần như hoàn toàn sử dụng hệ
thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ, bởi các ghế trong Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag)
được phân bổ đầy đủ cho các đảng chính trị, mặc dù giới hạn 5,0 phần trăm số ghế
khiến nước Đức dừng lại ở mức một quốc gia theo thể chế đầu phiếu đại diện tỷ lệ
trung tính.
Nhưng kể cả khi chúng ta xem nước Đức là một quốc
gia sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối thì lý luận của tôi vẫn đứng vững.
Giả thuyết phản biện của Lardeyret cho rằng, trong “thứ tự cấp bậc xét theo
tiêu chuẩn của tính hiệu lực và tính dân chủ”, hai kiểu chế độ kết nối với hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối (chế độ nghị viện và chế độ tổng thống) phải được
xếp trên mô hình thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu đại
diện tỷ lệ. Tính xác thực của giả thuyết này có thể được nhận diện bằng cách so
sánh bảy thể chế sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối (các nước dân chủ
nghị viện sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối cộng với Hoa Kỳ, Pháp, và tạm
thời là nước Đức) với tám thể chế sử dụng hệ thống bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ
lệ (nghĩa là tất cả các nền dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu
đại diện tỷ lệ, trừ Đức). Sau khi phân loại lại, kết quả nhóm các quốc gia sử dụng
hình thức bầu cử đầu phiếu đại diện tỷ lệ vẫn cho thấy biểu hiện tốt hơn trong
tiêu chí về khả năng kiểm soát tình trạng thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp trung
bình: 4,6 phần trăm so với 5,5 phần trăm), và không chênh lệch nhau nhiều trong
tiêu chí tốc độ tăng trưởng (3,5 phần trăm so với 3,4 phần trăm) và lạm phát
(6,6 phầm trăm so với 6,5 phần trăm). Đối với tiêu chí về khả năng đại diện cho
nguyện vọng các nhóm thiểu số và khả năng bảo vệ chất lượng nền dân chủ, các quốc
gia theo đầu phiếu đại diện tỷ lệ vẫn đang dẫn trước các quốc gia sử dụng hình
thức bầu cử đa số tương đối: 17,5 phần trăm so với 4,5 phần trăm, xét về tỷ lệ
nữ giới trong quốc hội; 8,0 phần trăm so với 4,4 phần trăm, xét về tỷ lệ chính
sách gia đình; 84,5 phần trăm so với 73,5 phần trăm, xét về về lượng cử tri đi
bầu; 38,9 phần trăm so với 41,9 phần trăm, xét về tỷ lệ giữa thu nhập của 20 phần
trăm gia đình giàu có nhất đối với tổng thu nhập của tất cả các gia đình. Như vậy,
các bằng chứng thực nghiệm đều bác bỏ giả thuyết phản biện của Lardeyret.
Lựa chọn
và thay đổi
Ưu thế khả kiến của chế độ đại nghị và hệ thống
đầu phiếu đại diện tỷ lệ dường như đang được đánh giá cao bởi cả công dân và
chính trị gia từ các nước dân chủ. Có một xu hướng bất mãn trước cách vận hành của
chế độ tổng thống đang lan rộng, cũng như sự hỗ trợ khá lớn dành cho những tiến
trình chuyển hướng đến hình thức chính phủ nghị viện, nếu không phải ở hầu hết thì
cũng ở phần lớn các nước dân chủ theo chế độ tổng thống; còn xu hướng trái ngược
thì hầu như không hiện diện ở bất kỳ nền dân chủ nghị viện nào. Tương tự như vậy,
ở hầu hết các nước dân chủ vẫn sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, người
ta cũng bất mãn về cách vận hành của hình thức bầu cử này và ấp ủ khát khao cho
tiến trình chuyển đổi hướng đến hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ, nhưng xu hướng
ngược lại thì rất hiếm gặp ở các nước dân chủ đã sử dụng hình thức bầu cử đầu
phiếu đại diện tỷ lệ. Một lý do quan trọng dẫn đến những chuyển động tinh thần
như vậy là tính chất gây chia rẽ – kẻ chiến thắng có tất cả – của hệ thống đầu
phiếu đa số tương đối, cũng như của chế độ tổng thống đã được biết đến rộng
rãi. Trong giai đoạn chuyển mình giữa hai thế kỷ, các nền dân chủ non trẻ phải
đối mặt với tình trạng phân chia sắc tộc hay những mâu thuẫn sâu sắc khác đã
nhiều lần tìm đến hình thức bầu cử đầu đại diện tỷ lệ để đạt được những khác biệt
như vậy. Do đó, lời khuyên lựa chọn hình thức bầu cử đa số tương đối của Lardeyret
dành cho nhà nước Nam Phi, cũng như những quốc gia và vùng lãnh thổ khác vẫn
đang phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn
trầm trọng và thực sự tạo
ra những nguy hiểm tiềm tàng.
Một lý do quan trọng khác dẫn đến tiếng thơm của
hình thức bầu cử đầu đại diện tỷ lệ là cảm giác của những người dân cho rằng kết
quả của những cuộc bầu cử thiên lệch vốn đã không công bằng và phi dân chủ.
Không có một đảng cầm quyền nào ở nước Anh sau Đệ nhị Thế chiến được chấp nhận
bởi đa số cử tri; tất cả các đảng chính trị này đã đạt được sức mạnh để tiếp tục
nắm quyền bất chấp thực tế là hầu hết các cử tri đã bỏ phiếu chống lại họ. Quan
điểm của cả Lardeyret và Quade khẳng định rằng tính chất thiếu cân xứng trong
quá trình bầu cử vốn không quan trọng chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi bởi giới
trí thức dân chủ. Một bài xã luận gần đây trên tờ Economist đã xác nhận rằng, “bởi vì nhận thức về sự công bằng là ngọn
lửa thử vàng cho mỗi nền dân chủ – là nền tảng của mọi nền tảng đối với tính hợp
pháp của thể chế dân chủ – nên những cuộc tranh luận về bóng dáng của sự bất
công đứng trên tất cả mọi lý luận khác.”
Những quá trình thay đổi tận gốc hiến pháp luôn rất
khó được thực hiện và vì vậy nên rất hiếm khi xuất hiện, nhưng những diễn trình
đầy xung năng thể hiện những quan điểm dân chủ phổ biến với nguyện vọng chuyển
từ hình thức bầu cử đa số tương đối sang hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ luôn xuất
hiện nhiều hơn những kịch bản khác trong thế giới dân chủ. Lý do dẫn đến hiện
tượng này không phải như Lardeyret đã minh họa, “khi một thể chế đã dính vào đầu
phiếu đại diện tỷ lệ, việc thoát ra là gần như bất khả, bởi vì nỗ lực như vậy
đòi hỏi các đảng độc lập phải hợp tác để giải quyết những mâu thuẫn riêng.” Ngược
lại, đây mới là lý do khiến các đảng chính trị mạnh vốn được hưởng lợi từ hệ thống
đầu phiếu đa số tương đối sẽ cố gắng duy trì hệ thống này cho bằng được. Còn với
hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ, tất cả các đảng lớn thường nắm giữ đủ lá phiếu
để chuyển sang một hệ thống khác nếu lựa chọn ấy phục vụ quyền lợi của họ, đặc
biệt là bởi vì, như Lardeyret đã chỉ ra một cách chính xác, nguyên tắc của hệ
thống bầu cử “thường bị bỏ qua trong hầu hết các hiến pháp”. Việc các đảng chính
trị trong hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ hiếm khi cố gắng thay đổi cách thức bầu
cử không thể được lý giải bởi quan điểm hẹp hòi về tính tư lợi, chính cảm giác cho
rằng việc loại bỏ hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ là hành vi phi dân chủ và còn
gây nguy hiểm. Tựu trung, cả bằng chứng thực nghiệm và chiều sâu của những luồng
tư tưởng trong các nền dân chủ hiện hành đã tạo nên dòng chảy mạnh mẽ khẳng định
tính ưu việt của hình thức bầu cử đại diện tỷ lệ cũng như của các nền dân chủ
nghị viện. Đó cũng là những lựa chọn thỏa đáng nhất cho những quốc gia dân chủ non
trẻ.
[1] Tựu trung, ưu thế của các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu
phiếu đa số tương đối trong luận điểm của hai học giả phê phán Lijphart thực chất
đến từ ưu thế của mô hình nhà nước quân chủ lập hiến, chứ không phải ưu thế tự
thân của hình thái thể chế dân chủ nghị viện sử dụng hình thức đầu phiếu đa số
tương đối. Còn với các nước phi quân chủ nhưng sử dụng hình thức đầu phiếu đại
diện tỷ lệ thì chính họ đã có ưu thế này, và số liệu cho thấy chất lượng nền
dân chủ của họ không thua bao nhiêu so với các nước quân chủ lập hiến. (Chú
thích của người dịch)
[2] Một nội các được xem như không đổi nếu cơ
cấu đảng chính trị của họ không thay đổi; tựa trên cơ sở của định nghĩa này và xem
xét giai đoạn 1945-1980, chúng ta sẽ thấy thời gian hoạt động trung bình của nội
các ở bốn quốc gia dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đa số tương đối
là 88 tháng, còn ở các nước dân chủ nghị viện sử dụng hình thức bầu cử đầu phiếu
đại diện tỷ lệ
là 44 tháng. (Nguồn: Arend
Lijphart, Democracies: Patterns of Majoritarian and Consensus Government in
Twenty-One Countries (New Haven: Yale University Press, 1984)) (Chú thích của
tác giả)
[3] Ngày tháng diễn ra các cuộc bầu cử quốc
hội ở 13 quốc gia này có thể được tìm thấy trong các chương tương ứng với danh
sách quốc gia của công trình: Thomas T. Mackie and Richard Rose, The
International Almanac of Electoral History, 3rd ed. (London: Macmillan, 1991).
(Chú thích của tác giả)
[4] Nguồn: W. Arthur Lewis, Politics in West
Africa (London: Allen and Unwin, 1965). (Chú thích của tác giả)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét