NĂM BẦU CỬ NGẶT NGHÈO
CỦA IRAQ
Adeed
Dawisha and Larry Diamond
Adeed
Dawisha là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Miami tại Ohio và là tác giả
của Chủ Nghĩa Quốc Gia Ả Rập Trong Thế Kỷ XX: Từ Triumph tới Despair (2003).
Ông từng viết nhiều đề tài về nền chính trị đầy tính cạnh tranh ở Iraq trong suốt
nửa đầu thế kỷ XX và trong giai đoạn sau chiến tranh gần đây. Larry Diamond là
thành viên cấp cao tại Viện Hoover, biên tập viên cộng sự của Tạp Chí Dân Chủ,
và là tác giả của Sự Chiến Thắng Hoang Phí: Sự Chiếm Đóng Của Người Mỹ Và Những
Nỗ Lực Vụng Về Đem Dân Chủ Đến Iraq (2005). Bài viết này ban đầu xuất hiện trên
số ra tháng Tư năm 2006 của Tạp Chí Dân Chủ.
Năm 2005 có lẽ được xem
là cột mốc đánh dấu những hệ quả
chính trị sâu sắc nhất trong lịch sử hiện đại của đất nước Iraq. Chỉ
trong vòng khoảng thời gian chưa tới mười một tháng, quốc gia này đã thực hiện
ba cuộc bầu cử. Hai trong số đó, diễn ra vào đầu và cuối năm, đã bầu ra được Quốc
hội dưới sự chuyển tiếp và sau đó đã thảo ra bản hiến pháp dài hạn. Chen giữa
hai cuộc bầu cử này, vào tháng Mười, là cuộc trưng cầu nhằm thông qua bản dự thảo
hiến pháp. Những cuộc bầu cử này đã diễn ra thành công, với sự tham gia bỏ phiếu
đông đảo của người dân Iraq bất chấp những thách thức ẩn đằng sau nó, sự đe dọa
khủng bố và các cuộc tấn công của phe nổi dậy trên diện rộng. Nhưng trong những đứt gãy sắc tộc và
tôn giáo tạo nên rào cản được xem như là nguyên tắc cấu thành chính của nền
chính trị này, ba cuộc bầu cử trên đề cao vai trò và những giới hạn của việc
xây dựng cơ chế bầu cử nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý và kiểm soát khả năng
phân cực trong nền chính trị.
Vì quá trình tái thiết
sau chiến tranh của Iraq đã bắt đầu thay đổi từ giai đoạn mang tính thách thức
phải cấp bách duy trì sự ổn định sang một nhiệm vụ mới về sự tái lập chính trị,
nên một trong những khó khăn chính cần phải đối mặt là việc làm sao để lựa chọn
ra được một cơ chế để tiến hành bầu cử trước tiên một Hội Đồng Quốc Gia Chuyển
Tiếp, và sau hết là tiến đến một Hội Đồng Quốc Gia lâu dài.1 Vài
tháng sau khi được thành lập vào tháng Năm năm 2003, Chính Quyền Liên Minh Tạm Thời
(CPA) đã giao nhiệm vụ cho các chuyên gia đến từ IFES (được thành lập như một Tổ
Chức Quốc Tế về Các Cơ chế Bầu Cử) và một số đơn vị khác trong việc tư vấn cách
thức triển khai những cuộc bầu cử tại Iraq. Cùng lúc đó, những chính trị gia của
Iraq và các cố vấn của họ cũng đang bắt đầu xem xét vấn đề trên. Về lý thuyết, tất cả các tùy chọn được đề xuất là: hình thức đại diện tỉ lệ hoặc một dạng biến thể của nó (PR); the
single-member first-past-the-post system (FPTP); một số cơ chế kết hợp hai
phương pháp trên; bỏ phiếu thay thế (AV); bỏ phiếu chuyển nhượng đơn (STV); và
bỏ phiếu không chuyển nhượng đơn (SNTV).
Hầu hết các tùy chọn trên
đã bị loại khỏi danh sách ngay từ đầu bởi vì chúng hoặc là không thực tế hoặc
không phù hợp với hoàn cảnh chính trị tại Iraq. Chẳng hạn như FPTP rất được
quan tâm trong số này vì nó hứa hẹn sẽ giới hạn quyền lực của các đảng phái có
khuynh hướng độc tài và khuyến khích tiến hành những cuộc bầu cử đối với các
bên đại diện độc lập và đến từ địa phương, làm giảm thiểu viễn cảnh của sự thay
đổi hình ảnh bầu cử thành một cuộc trưng cầu mang tính phân cực chỉ dựa trên quan
điểm tôn giáo và sắc tộc. Nhưng dù sao, cũng vì là đây là một cơ chế được quyết
định đặc biệt bởi số đông, nên bản chất của FPTP rõ ràng là không phù hợp với một
quốc gia bị chia cắt mạnh mẽ như Iraq, nơi mà điều quan trọng là đảm bảo một mức
độ công bằng nhất định trong số người đại diện phải đến từ mọi nhóm dân chiếm
đa số cũng như những sắc dân thiểu số.2 Đối với AV, về mặt lý thuyết,
nó còn được quan tâm nhiều hơn nữa, với lý do mà Donald Horowitz mô tả rằng: Với
sự yêu cầu các cử tri ở mỗi khu vực đơn lẻ xếp hạng các ứng cử viên trên lá phiếu
bầu của mình, điều này buộc các ứng viên phải tranh đua để khỏi bị những người
đi bầu xem xét đưa vào vị trí có thứ bậc thấp hơn và do đó tạo ra sự điều chỉnh
thích hợp.3 Nhưng nó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng không có cơ chế
nào trong số này sẽ trở nên thiết thực, vì lý do đơn giản là một chính quyền được
bầu lên của Iraq, dù cho nó có được hỗ trợ và tư vấn bởi cộng đồng quốc tế có
nhiều đến mức nào đi chăng nữa, thì nó vẫn sẽ thiếu thời gian, nguồn lực, dữ liệu
điều tra dân số đáng tin cậy, hoặc sự tín nhiệm chính trị để vạch ra những ranh
giới giữa 275 khu vực đơn lẻ (the size of parliament
that the interim constitution established in March 2004).
Một điều mà chúng ta cũng cần phải tính đến đó là những người đi bầu tại
Iraq. Mặc dù đã có những kế hoạch về một chương trình bao quát cho việc giáo dục
dân sự, ưu tiên trước hết vẫn là làm sao giữ cho các lá phiếu và quá trình bỏ
phiếu càng đơn giản càng tốt. Việc bảo mọi người phải phân hạng vài ứng cử viên
trên lá phiếu, điều mà họ chưa từng làm tại một cuộc bầu cử dân chủ trong vòng
năm mươi năm qua, dường như thật quá sức. Cũng cùng nguyên nhân tương tự, STV bị
xem là kém tính thực tế bởi vì nó đòi hỏi người bỏ phiếu phải xuy xét và xếp hạng
thậm chí đối với nhiều ứng cử viên hơn tại những khu vực có nhiều ứng viên. Tất
cả các cơ chế này do vậy bị loại sang bên khá sớm trong quá trình chuẩn bị phương
án cho những cuộc bầu cử ở Iraq. Vậy thì liệu có loại cơ chế tích hợp nào chỉ cần
lựa chọn một ứng viên cho mỗi khu vực. Đó là điều SNTV đã làm được – theo đó người
đi bầu chỉ lựa chọn một người duy nhất trong một khu vực có nhiều ứng viên,
không còn tình trạng phải bầu thêm những ứng viên dư thừa khác của cùng một đảng.
Tuy SNTV đưa ra một cơ chế rất đơn giản cho người bỏ phiếu, nhưng tất cả các
chuyên gia đều biết có những thực tế tiềm tàng theo hướng ngược lại, mà nó đòi hỏi
một mức độ đáng kể của việc lập kế hoạch và phối hợp trong các nhóm tranh cử và
giữa các nhóm tranh cử với những thành phần ủng hộ họ nhằm đảm bảo được các mức
độ phù hợp một cách tương xứng và có lý để đạt được kết quả mong muốn.
Việc cần phải cân nhắc đến cả hai yếu tố về sự hiệu quả và khả năng áp dụng
vào thực tiễn do vậy đã khiến các chuyên gia quốc tế cũng như những nhà lãnh đạo
chính trị của Iraq và các cố vấn của họ thiên về cơ chế PR nhiều hơn. Quả thật,
PR là một lựa chọn hấp dẫn cho Iraq vì nhiều lý do. Trước tiên, nó thích ứng với
sự chia đều quyền lực hay tính hợp lý một cách “Consociational”
trong việc xây dựng thể chế mà Iraq đang cố
hướng đến. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố trên đã trở thành một nguyên tắc
cơ bản trong lịch sử chính trị của Iraq với việc bổ nhiệm Hội Đồng Chính Phủ
Iraq vào tháng Bảy năm 2003 – có 25 thành viên đại diện cho sự cân bằng mỏng
manh giữa các dòng Shi’ite, Sunni và nhóm người Kurd tương ứng với tỉ lệ của những
nhóm này chiếm trong tổng dân số Iraq (nó cũng bao gồm một thành viên đại diện
cho mỗi cộng đồng thiểu số Turkoman và người Công giáo Assyria).4 PR
duy trì được tính logic là mỗi nhóm nên biết rằng họ phải chia sẻ quyền lực dựa
theo tỷ lệ của số lượng nhóm đó trong xã hội. Sự mong đợi này – mà nó nhanh
chóng trở thành một quyền lợi – đã từng là mối lo ngại sâu sắc đối với vài người
dân Iraq và những cố vấn nước ngoài, nhưng một khi tính logic được xác lập, nó
trở thành cơ chế không thể chối bỏ.
Thứ hai, những người lãnh đạo của các nhóm trọng yếu như dòng Shi’ite và
nhóm người Kurd hào hứng với cơ chế PR này vì nhờ vậy sẽ giúp họ củng cố vị thế
trong hệ thống chính trị và cho họ sự kiểm soát chặt chẽ hơn về việc ai sẽ điều
hành nhóm của họ. PR cũng tạo sự dễ dàng hơn cho các bên khác thuộc nhóm người
Kurd và dòng Shi’ite để cùng hiện diện trong những danh sách chung. Cuối cùng, những
người ủng hộ cho một chỉ tiêu đảm bảo cho sự đại diện của phụ nữ trong Quốc hội
– chẳng hạn như Hội Đồng Phụ Nữ Tối Cao Iraq – đã được đề xuất bởi PR vì sự phù
hợp mang tính kỹ thuật cao nhằm đảm bảo sự đại diện của phụ nữ. Ví dụ, những
chuyên gia quốc tế ước tính rằng nếu các bên được yêu cầu phải nâng cao vai trò
phụ nữ ở mức độ không thấp hơn mỗi third interval trong các danh sách xếp hạng của họ, thì có
thể đạt được khoảng 25 phần trăm chỉ tiêu tối thiểu dành cho phụ nữ đại diện
trong Quốc hội – kế hoạch này được viết vào bản hiến pháp tạm thời và giữ lại,
ít nhất là cho đến một thời kỳ chuyển tiếp, trong một bản hiến pháp lâu dài, thậm
chí nếu PR được thực hiện tại một loạt các khu vực đa ứng cử viên. Việc xây dựng
một cơ cấu để đảm bảo một tỷ lệ tối thiểu của phụ nữ trong Quốc hội sẽ khó khăn
và trở ngại hơn nhiều trong một hệ thống các khu vực chỉ có một ứng viên, hoặc
thậm chí trong một hệ thống hỗn hợp.
PR
Là Cơ Chế Gì?
Trước khi những cuộc tranh
luận trở nên quá dài về việc xây dựng hệ thống bầu cử thì nó đã dẫn tới câu hỏi,
PR là cơ chế gì mà sẽ phù hợp nhất đối với Iraq. Ngoài việc lựa chọn một phương
thức phân chia số lượng chỉ tiêu cho các bên, còn có hai vấn đề khác: liệu có cần
phải có một ngưỡng tối thiểu để toàn bộ các bên có thể tham gia vào Quốc hội,
và sự lựa chọn giữa một hệ thống ở cấp độ quốc gia hay hệ thống dựa trên từng
khu vực (hoặc kết hợp cả hai) thì cái nào tốt hơn. Một số quan chức CPA, bao gồm
nhà quản trị L. Paul Bremer, muốn ngăn chặn sự chia cắt tiêu cực của Quốc hội thành
một cơ quan kém hiệu quả được cấu thành từ nhiều bộ phận nhỏ trong khi cũng đảm
bảo cho sự đại diện từ các nhóm thiểu số và những người theo chủ nghĩa tự do mà
sự ủng hộ của họ có thể được lan ra một phần trong nước. Mà nó cho thấy một ngưỡng
bầu cử khiêm tốn không nhiều hơn 2 hoặc 3 phần trăm số phiếu. Nhưng vì những tiềm
tàng đáng báo động của việc thiếu xuy xét đến một cách tùy tiện nhóm tôn giáo thiểu
số và các nhóm tự do vô tín ngưỡng đã trở nên hiện hữu rõ ràng, nên cả hai vấn
đề, tính logic của sự tham gia các bên và sự mong muốn có một Quốc hội có nhiều
tiếng nói ôn hòa và độc lập đã ép buộc phải theo hướng không đặt ra ngưỡng nào
cả.5
Vào đầu năm 2004, một số
quan chức Iraq và quốc tế bắt đầu đưa ra đề xuất cho một cơ chế PR hai-tầng, chủ
yếu ở các khu vực bầu cử, nhưng có đủ số ghế lấy từ danh sách quốc gia để đảm bảo
sự cân bằng tổng thể giữa số phiếu và số ghế. Vào khoảng thời gian đó, tháng 3
năm 2004, một cố vấn của Iraq cho Hội Đồng Chính Phủ và một cố vấn Mỹ cho CPA đã
đưa ra một cách độc lập những đề xuất hầu như giống hệt nhau cho một cơ chế mà
qua đó 220 của 275 số ghế sẽ được chia cho 18 tỉnh của Iraq tỉnh – mỗi tỉnh
đóng vai trò như là một khu vực bầu cử - dựa trên cổ tỉ lệ của họ chiếm trong tổng
dân số.6 những số ghế phân theo tỉnh này sẽ được lấp đầy đầu tiên, bằng
cách sử dụng quy tắc của cơ chế PR trong từng tỉnh, và sau đó là 55 ghế còn lại
(20 phần trăm của tổng số) sẽ được phân bổ cho danh sách các đảng của quốc gia
để đảm bảo rằng mỗi chỉ tiêu số ghế tổng thể của mỗi đảng hoặc của liên hiệp các
đảng sẽ phù hợp chặt chẽ nhất có thể với chỉ tiêu bầu cử của quốc gia. (IFES đã
ước tính rằng nếu 20 phần trăm số ghế được giữ lại để được lấp đầy từ danh sách
quốc gia, thì cơ chế này có thể đảm bảo một mức độ cao trong một tỉ lệ tổng thể.)
Có nhiều lý do thuyết phục
cho làm cơ cở cho PR chủ yếu ở các khu vực có quy mô vừa trùng với các ranh giới
phân chia tỉnh của Iraq. Đầu tiên, các tỉnh đã được thành lập rồi. Thứ hai,
ngay cả khi sự cân bằng dân số giữa các tỉnh xảy ra tranh cãi, thì việc phân phối
hai-tầng của số ghế dành cho danh sách quốc gia sẽ đảm bảo tỉ lệ tổng thể. Thứ
ba, một cơ chế dựa trên khu vực sẽ cho phép vài liên hệ xuất hiện giữa những đại
biểu được bầu và những khu vực bầu cử phân theo địa lý. Và thứ tư, nó sẽ trở
nên dễ dàng hơn cho người đi bầu để đánh giá các ứng cử viên cá nhân trên mỗi
danh sách, making for greater local accountability.
Cuối cùng, quyết định về một
cơ chế bầu cử cho Iraq đã được đưa ra chủ yếu bởi Carina Perelli, trưởng Ban Hỗ
trợ Bầu cử Liên Hiệp Quốc (và là người đứng đầu trong công cuộc bầu cử ở Iraq),
mà sau đó được thông qua bởi Hội đồng Chính phủ Iraq và được ký kết thành luật
bởi Bremer vào ngày 15 tháng Sáu năm 2004, đây là một trong những việc làm cuối
cùng của ông dưới chức vụ người điều hành CPA. Khá bất ngờ là, Perelli đã không
lựa chọn cơ chế PR hai-tầng, mà thiên về cơ chế PR chỉ xét trên một khu vực duy
nhất đó là toàn bộ quốc gia. Bà đã quyết định như vậy vì nhiều nguyên do. Bởi
đây là cách dễ nhất để kiểm soát tính tới thời điểm này. Nó tránh việc phải xác
định làm thế nào để phân bổ số ghế cho các khu vực, mà điều này là một vấn đề hóc
búa khi thiếu vắng số liệu điều tra dân số được chấp nhận rộng rãi. Nó vô hiệu
hóa những lo ngại liên quan đến nơi được lựa chọn để mọi người có thể tới bỏ
phiếu – đây là vấn đề đối với những người bản địa trước kia sống ở tỉnh này nhưng
bây giờ họ có lẽ đang sống trong một tỉnh khác (và là một vấn đề cá biết cho
Kirkuk, nơi mà những nhóm người Kurd đang hăng hái quyết tâm nhằm tái định cư
cho những người Kurd để đảo ngược một chiến dịch trước đây về sự thanh lọc sắc
tộc dưới thời nằm quyền của Đảng Ba'ath). Và, như Perelli đã lý giải trong một
cuộc họp báo ngày 04 tháng Sáu, một khu vực duy nhất bao trùm toàn quốc sẽ tạo
thuận lợi hơn “cho những cộng đồng [sắc tộc và tôn giáo] đã từng bị chia cắt và
phân tán khắp Iraq… có cơ hội tích lũy phiếu bầu và được tham gia bỏ phiếu với
những người có cùng chí hướng khác.”7 Tuy rằng một cơ chế bầu cử
phân theo từng khu vực kèm với một lượng chỉ tiêu số ghế dành cho danh sách từ
quốc gia cũng đã cho phép các cộng đồng từng bị phân tán trước đây có thể tổng
hợp số phiếu bầu rải rác của họ ở khắp nơi để lựa chọn ra được một hoặc nhiều
thành viên trong Quốc hội ngay cả khi họ bị yếu thế trong việc bầu cử tại bất kỳ
một tỉnh nào. Tuy nhiên, không cần phải hỏi thì cơ chế bầu cử chỉ xét ở khía cạnh
toàn quốc vẫn là cách dễ dàng nhất.
Sau hết, có hai hậu quả quan trọng trong sự lựa chọn của Pirelli về cơ
chế bầu cử cho Iraq. Thứ nhất, vì sự thiếu vắng các ứng cử viên từ các khu vực
đơn lẻ trong việc bầu cử, những cuộc bầu cử vào tháng Một
năm 2005 đã trở nên gần như hoàn toàn là một cuộc trưng cầu mang bản sắc quốc
gia không có sự tiết chế bởi bất cứ yếu tố hoặc đặc trưng nào của địa phương.
Và thứ hai, việc thiếu xét đến sự đại diện từ các khu vực dựa vào địa lý, cùng
với một loạt lời trách cứ khác,
đã dẫn tới việc hầu hết các đảng chính trị người Sunni đã tẩy chay các cuộc bầu
cử này.8 Mỗi hậu quả trên đều gây tác động lớn lên nền chính
trị tại Iraq.
Hai
Cuộc Bầu Cử Đầu Tiên
Các cuộc bầu cử ngày 30
tháng Giêng giúp chọn ra một Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp, với nhiệm vụ viết một
bản hiến pháp dài hạn cho Iraq, tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để thông qua bản
hiến pháp này, và chuẩn bị cho đất nước những cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức
không muộn hơn tháng Mười Hai cùng năm. Giữa tình cảnh tranh chấp cục bộ, tháng
Giêng đã chứng kiến một chiến dịch tranh cử nóng bỏng gồm hàng ngàn ứng viên
thuộc hơn một trăm đảng phái và các liên đoàn khác nhau. Đáng chú ý là sự vắng
mặt của những người theo dòng Sunni tại Iraq. Một thiểu số nhân khẩu chiếm khoảng
20 phần trăm dân số Iraq, họ từng là tinh hoa quyền lực và chính trị của đất nước
này trong nhiều thế kỷ, vị thế thống trị của họ đã được củng cố dưới sự cai trị
ngang nhiên của phe cánh Saddam Hussein. Với sự sợ hãi đánh mất quyền lực chính
trị, phe cánh này đã cố gắng gây cản trở và biến các cuộc bầu cử trở nên bất hợp
pháp, công khai tẩy chay và coi thường uy tín của chúng vì nó được xem là một nỗ
lực theo kiểu đế quốc Hoa Kỳ,
trong khi họ lại im lặng và ngầm gật đầu cho phép những đe dọa và sự thị uy của
các phần tử nổi dậy dòng Sunni.
Xếp hàng chống lại những người phản đối thuộc dòng Sunni là những người
Shi’ite và người Kured, lần lượt chiếm khoảng 60 phần trăm và 20 phần trăm dân
số đất nước. Cả hai cộng đồng này đã phải chịu đựng nhiều dưới thời
cai trị của Saddam và bây giờ là lúc xác định trong việc nắm bắt thời điểm giúp
họ nâng cao quyền thế chính trị. Giáo sĩ cấp cao của dòng Shi’ite, đặc biệt là vị
được tôn kính nhất Ayatollah Sayyid Ali al-Sistani Vĩ Đại, công khai kêu gọi đa
số người Shi’ite tham gia bỏ phiếu. Mặt khác, nhóm người Kurd, chẳng cần có sự khích
lệ nào để tham gia bỏ phiếu với số lượng đông; họ đã nắm chắc trong tay phần lớn
nhiệm vụ xây dựng một bản hiến pháp mà nó sẽ bảo vệ quyền tự do văn hóa và
chính trị của họ. Cuối cùng, thậm chí với một cuộc tẩy chay bởi hầu hất người
Sunni, thì vẫn có 58 phần trăm số người tham gia bầu cử đến đăng ký tại các điểm
bỏ phiếu.
Từ một dãi bao la liên
danh các đảng phái, có ba khối nổi lên làm chủ Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp với
275 số ghế. Khối lớn nhất, đoạt 140 số ghế, là Liên Đoàn Iraq Thống Nhất (UIA),
bao gồm chủ yếu là những đảng phái hoặc cá nhân theo dòng Shi’ite thuộc Hội Đồng
Tối Cao cho cuộc Cách Mạng Hồi Giáo ở Iraq (SCIRI) dưới sự lãnh đạo của giáo sĩ
Abd al-Aziz al-Hakim và đảng al-Da'wah do Ibrahim al-Jaafari lãnh đạo. Liên
Minh Người Kurd, một sự liên hiệp của hai nhóm người Kurd lớn dưới sự lãnh đạo
của Masoud Barzani và Jalal Talabani, giành được 75 số ghế; và Liên Danh Iraq,
một nhóm những chính trị gia không theo tôn giáo nào dưới sự lãnh đạo thủ tướng
tạm thời Iyad Allawi, giành được 40 ghế. Chín nhóm nhỏ khác chiếm 20 ghế còn lại.
Được xem là sự thất bại của cuộc bầu cử này, hoàn toàn rõ ràng rằng người Iraq
đã tham gia bỏ phiếu với số lượng áp đảo để bảo vệ bản sắc dân tộc và tín ngưỡng
của họ. Hầu như tất cả người Kurd (có thể hơn 95 phần trăm) bỏ phiếu ủng hộ
Liên Minh Người Kurd, khoảng 75 phần trăm số người Shi’ite bỏ phiếu cho UIA, và
ít nhất 75 phần trăm số người Sunni đã quyết định làm theo sự lựa chọn theo
giáo phái của họ, đó là tẩy chay cuộc bầu cử này. Kết quả là, chỉ có 17 người
Sunni được bầu, và hầu hết những người này nằm trong danh sách những người
không có tín ngưỡng và theo chủ nghĩa quốc gia.
Kết quả của cuộc bầu cử
là sự báo hiệu cay đắng cho người Sunni. Đánh cược vào sự thất bại, họ đã trở thành những kẻ thua cuộc thực sự.
Kiểm soát chỉ 5 phần trăm số ghế trong Quốc hội, những người Sunni đã bị
tước quyền thương lượng chính trị trong việc viết nên bản hiến pháp lâu dài mới.
Ngay sau khi hình thành vào tháng Tư năm 2005 của chính phủ chuyển tiếp, những
người Sunni thay đổi suy nghĩ của họ và đề nghị được tham gia vào ủy ban soạn
thảo hiến pháp. Nhận thấy rằng sự cho phép người Sunni tham gia vào công việc
chính trị là điều cần thiết giúp giảm bớt những cuộc nổi dậy, người Mỹ đã kiên
trì thương lượng để điều này diễn ra, và một thỏa thuận cuối cùng đã đạt được với
những nhà lãnh đạo chính trị người Shi’ite và người Kurd để thêm vào 15 đại biểu
được bầu và 10 đại biểu không được bầu trong nhóm người Sunni vào 55 thành viên
của ủy ban soạn thảo hiến pháp.
All the
horsetrading meant that ủy ban hiến pháp ngay từ đầu đã không thảo
luận thật sự nghiêm túc cho đến đầu tháng Bảy. Đối mặt với thời hạn vào ngày 15
tháng Tám và một loạt các vấn đề chưa đạt được và còn nhiều kết quả gây tranh
cãi, ủy ban này đã đệ ra một xấp tài liệu thỏa hiệp mà có tới hơn 53 văn kiện cần
giải quyết tại những thời điểm nào đó trong tương lai.9 Mặc dù vậy,
các thành viên Sunni thuộc ủy ban này từ chối chứng thực tài liệu này. Nỗi sợ
hãi chính của họ là Iraq có thể sẽ rơi vào một hệ thống liên bang lỏng lẻo với
một khu vực của người Kurd ở phía bắc và một một khu vực rộng lớn của người Shi’ite
ở phía nam – cùng nhau kiểm soát tất cả tài nguyên dầu mỏ và khí đốt dồi dào của
Iraq – do đó chỉ còn để lại cho những người Sunni kiểm soát khu vực ở miền
trung với sự thiếu hụt nguồn tài nguyên và năng lượng.
Khi cuộc trưng cầu dân ý
vào ngày 15 tháng Mười đã cận kề, sự thương lượng căng thẳng giữa các nhóm khác
nhau vẫn tiếp tục diễn ra, lần này còn có sự tham gia mạnh mẽ từ phía Hoa Kỳ. Mục
đích là để đạt được một số thỏa hiệp chính trị nhằm giảm bớt những lo ngại của
người Sunni, đặc biệt là những điều có liên quan đến hệ thống liên bang đã được
hình dung trước của Iraq. Ba ngày trước khi tiến hành cuộc trưng cầu, các nhà
lãnh đạo người Shi’ite và người Kurd chấp thuận đòi hỏi từ đảng lớn nhất của
người Sunni, Đảng Hồi Giáo Iraq (IIP), về một văn kiện bổ sung yêu cầu một ủy
ban hiến pháp mới được hình thành sau cuộc tổng tuyển cử này, với vai trò thực
hiện trong vòng bốn tháng phải có được “những sửa đổi cần thiết cho bản hiến
pháp.”10 Mong muốn của Đảng IIP đã được chấp thuận, họ kêu gọi tín đồ
của mình không những chỉ tham gia vào cuộc trưng cầu, mà còn để bỏ phiếu ủng hộ
văn bản hiến pháp. Ngay sau ngày đó, quân nổi dậy đã đánh bom trụ sở chính của
IIP tại thành phố quan trọng của người Sunni, Fallujah.
Việc nâng cao vai trò của
Đảng IIP tuy vậy cũng không làm giảm được sự phản đối của người Sunni với bản hiến
pháp. Trong khi những khu vực người Shi’ite và người Kurd đa số bỏ phiếu ủng hộ
bản hiến pháp, hai tỉnh của người Sunni lại bỏ phiếu chống lại nó triệt để, and a third registered a 55 percent negative vote. Trên
thực tế, những người Sunni đã suýt có khả năng loại bỏ hoàn toàn bản hiến pháp này,
vì hiến pháp tạm thời trước đây của Iraq quy định rằng hai phần ba tổng số phiếu
chống lại văn bản hiến pháp tại bất kỳ 3 tỉnh nào trong số 18 tỉnh của Iraq sẽ
dẫn đến việc loại bỏ nó. Trong khi người Sunni lại thất bại một lần nữa trong
việc đạt được mục tiêu của họ, thì tinh thần của các nhà lãnh đạo chính trị của
người Sunni vẫn trong trạng thái tuyệt hơn rất nhiều bởi sự tham gia của họ ở
cuộc trưng cầu này hơn là cách họ đã tẩy chay những cuộc bầu cử hồi tháng
Giêng.
Những
Cuộc Tổng Tuyển Cử Vào Tháng Mười Hai
Do vậy, hầu như không có lời
kêu gọi nào giữa những người Sunni nhằm tẩy chay cuộc bầu cử vào tháng Mười Hai
năm 2005 để chọn ra một Hội Đồng Quốc Gia trong bốn năm để dọn đường cho một Hội
Đồng Tổng Thống (gồm một tổng thống và hai phó tổng thống), một thủ tướng, và một
nội các. Một yếu tố quan trọng khác trong việc quyết định đến sự tham gia của
người Sunni vào cuộc bầu cử tháng Mười Hai là do một sự thay đổi đáng kể trong cơ
chế bầu cử. Trong khi giữ lại cơ chế tổng thể của PR không có bất kỳ ngưỡng giới
hạn nào cho sự đại diện, Hội Đồng Quốc Gia Chuyển Tiếp đã chọn thời điểm này để
áp dụng một cơ chế hai-tầng rất giống với đề xuất hồi Tháng Ba 2004 được đưa ra
bởi những cố vấn của Iraq và cả quốc tế. Khoảng hơn 80 phần trăm số ghế (230
trên 275) đã được phân bổ cho các tỉnh là những khu vực có nhiều ứng viên,
trong khi vẫn còn lại 45 ghế được dành cho những “vị trí bù đắp” lấy từ những danh
sách quốc gia để đạt được tỉ lệ tổng thể. Mỗi tỉnh sẽ có một chỉ tiêu trong số 230
ghế tỷ lệ thuận với tỉ lệ số người đăng kí tham gia bỏ phiếu của tỉnh đó tính trên
cả nước. Vì vậy, bất kể có bao nhiêu người thực sự đã tham gia bỏ phiếu tại các
tỉnh của họ, thì những người Sunni vẫn được đảm bảo hiệu quả rằng họ sẽ có một chỉ
tiêu số ghế nhất định trong Hội Đồng Quốc Gia mới.11
Theo cơ chế này, các số
ghế trong Quốc hội được lấp đầy qua hai bước. Thứ nhất, số lượng phiếu bầu ở các
tỉnh (trước đây gọi là các khu tự trị) được chia bởi số ghế phân bổ để tạo
thành “chỉ tiêu từng khu vực.” Bất kỳ bên nào đạt được chỉ tiêu tương ứng với một
ghế, và các ghế bổ sung sẽ được phân bổ tính theo bội số của chỉ tiêu. Quá
trình này được lặp đi lặp lại trong mỗi tỉnh để điền vào 230 ghế trong Hội Đồng
Quốc Gia được phân theo khu vực. 45 ghế còn lại sau đó được phân phối trước
tiên giữa các đảng phái và các chủ thể độc lập mà chưa giành được số ghế nào ở
cấp tỉnh nhưng đã tích lũy được số phiếu bầu bằng hoặc cao hơn so với “mức chỉ
tiêu bầu cử quốc gia.” Mức chỉ tiêu này có được dựa vào cách chia tổng số phiếu
bầu trong cả nước cho tổng số ghế của Hội Đồng Quốc Gia (275). Chỉ có một đảng
có thể đạt được một ghế này thông qua quá trình bù đắp này. 44 ghế còn lại sau
đó được phân bổ giữa tất cả các bên tham gia phù hợp với chỉ tiêu bầu cử của quốc
gia tương ứng với từng nhóm. Việc bỏ phiếu ở ngoài nước, diễn ra ở 15 quốc gia,
được xây dựng để đòi hỏi một phần số ghế này.
Ủy Ban Bầu Cử Độc Lập của
Iraq (IECI) công bố vào ngày 29 tháng Mười rằng có 228 đảng phái, khối liên
minh, và các tổ chức độc lập chính trị khác đã đăng ký tranh cử. Tuy nhiên, rõ
ràng là từ đầu, có năm khối liên minh được cho rằng sẽ chiếm phần lớn chỉ tiêu
của số ghế trong Hội Đồng Quốc Gia. Họ là UIA (đã giành được nhiều giấy ủy nhiệm
Hồi giáo hơn so với sự rút lui của một số nhóm không theo tôn giáo người Shi’ite
chẳng hạn như Đảng Quốc Đại Ahmad Chalabi và một nhóm trung thành với giáo sĩ
gây chi rẽ người Shi’ite Muqtada al-Sadr), Nhóm Liên Đoàn Người Kurd, Nhóm phi
tín ngưỡng Allawi thuộc Liên Danh Quốc Gia Iraq, và hai nhóm người Sunni – Mặt
Trận Đồng Tâm Iraq và Mặt Trận Đối Thoại Quốc Gia Iraq.
Khía cạnh đáng chú ý nhất
của chiến dịch này có vẻ như là sự khu vực hóa của nó. Sự hòa lưu của các dòng
chảy khác biệt về địa lý và dòng chảy tôn giáo dân tộc ở hầu hết các khu vực của
Iraq giúp loại trừ sự tranh chấp nghiêm trọng giữa các bên và các nhóm liên
minh khác nhau trong vòng lũy ngăn cách giữa các tỉnh tương ứng của họ. Do vậy,
UIA hay các nhóm Mặt trận của người Sunni đều không thực hiện vận động tranh cử
trong các khu vực của người Kurd, và hầu như cũng chẳng có bất kỳ sự hiện diện
của người Kurd nào ở các tỉnh của người Shi’ite và Sunni. Ngay cả ở các thành
phố lớn đa sắc tộc – chẳng hạn như Baghdad, Mosul và Kirkuk – có rất ít sự giao
nhau của những dòng chảy tôn giáo dân tộc. Thay vào đó, mỗi nhóm liên minh tập
trung khả năng của mình cho việc củng hỗ trợ vững chắc các cơ sở riêng của
mình, cùng lúc kiên trì cản trở sự xâm nhập của các nhóm liên minh khác vào khu
vực của mình. Tính logic của chính trường bầu cử như một cuộc trưng cầu sắc tộc
vẫn còn tiếp tục trở thành rào cản lâu dài.
Theo cách sắp đặt như thế
này, thì những nhóm đánh mất lợi thế nhiều nhất là các đảng phái và các nhóm
liên minh phi dân tộc và tín ngưỡng, mà khả năng thể hiện của họ trong các cuộc
bầu cử phụ thuộc vào tính hiệu quả trong việc tiến hành một chiến dịch quốc gia. Chẳng hạn, nhóm Liên Danh Quốc
Gia Iraq Allawi, tập hợp những nhóm phi tôn giáo tinh vi nhất và có nguồn tài
chính dồi dào nhất, đụng độ phải sự phản kháng kiên quyết trong những khu vực mà
được UIA xem là lãnh địa riêng của mình. Các trụ sở chính của Đảng Allawi đã bị
tấn công bởi các tay súng tại Basrah và Nasiriyah, bị đánh bom ở Najaf, và nhiều
nơi bị đốt cháy tại Karbala.12 Những hành vi trên không chỉ được thực
hiện bởi UIA, nhưng chúng còn liên quan đến các liên minh của người Sunni và
nhóm Liên Đoàn Người Kurd. Dường như khi mà một nhóm nào đó thực hiện hành vi vận
động tranh cử một cách chính đáng, thì các nhóm kia xem đó như là hành vi xâm
phạm bầu cử không thể chấp nhận.
Vẫn còn điều đáng lo hơn
đó là một làn sóng các vụ ám sát và tấn công có vũ trang ở Baghdad và nhiều
thành phố khác của Iraq. Một vài trong số các vụ này nhắm vào các chính trị gia
người Sunni, những ai ủng hộ cho việc tham gia bầu cử và từ chối sử dụng bạo lực.
Hai ngày sau khi có tuyên bố rằng “không tham gia vào các cuộc bầu cử sắp tới là
tương đương với tội phản quốc,”13 một nhà lãnh đạo chủ chốt của nhóm
Đồng Tâm đã bị bắn chết giữa thanh thiên bạch nhật ngay bên ngoài thủ đô
Baghdad. Quả thật, nhóm Mặt Trận tuyên bố rằng không ít hơn mười thành viên của
mình đã bị giết chết, trong đó có người đứng đầu tổ chức tại thành phố Ramadi của
người Sunni.
Những thành viên của các đảng
và các nhóm khác cũng bị thiệt mạng trong các cuộc tấn công cá nhân hoặc trong
các cuộc thảm sát có chủ đích nhắm vào những trụ sợ chính của các đảng.14
Trong khi những mức độ đe dọa và sử dụng bạo lực trong bầu cử này hầu như hiếm
khi xuất hiện trong các nền dân chủ mới thành hình, chúng đã đổ thêm dầu vào lửa
của những khó khăn sẵn có bởi sự thiếu an ninh chung ở Iraq, và bối cảnh khắc nghiệt đã làm hạn chế sự đi lại
của những nhà lãnh đạo các đảng phái. Họ do vậy dường như thực hiện vận
động tranh cử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các
phương tiện truyền thông điện tử. Các trạm vệ tinh và các đài truyền hình liên
tục quảng cáo không ngừng nghỉ cho các đảng phái khác nhau; về vấn đề này, nhóm
Liên Danh Quốc Gia Iraq là nhóm thích ứng nhất và có túi tiền nhiều nhất cho đến
nay. Nhưng điều này đã được cân bằng bởi một rất nhiều các câu chuyện nổi bật, các
cuộc phỏng vấn, và các cuộc tranh luận liên quan đến các thành viên của hầu hết
các bên.
Mối quan tâm về sự thiếu
an ninh, các dịch vụ cơ bản, và cơ hội kinh tế chi phối phần lớn trong các bài
tranh luận của chiến dịch vận động. Sự công kích bằng lý lẽ hùng hồn nhất đến từ
Iyad Allawi và các ứng cử viên cùng hội cùng thuyền với Ông, những người này cáo
buộc chính phủ chuyển tiếp dẫn dắt UIA đã thiếu quyết đoán, thiếu năng lực, và
tham nhũng đồng thời không ngừng lên án những căn bệnh của đất nước này – hệ thống
xử lý nước thải cũ kỹ, tình trạng thiếu điện, sự khan hiếm việc làm, thiếu quan
tâm đúng mực đến sức khỏe, và trên hết là tình trạng bạo lực và hỗn loạn của cuộc
sống hằng ngày. Trong một bài phát biểu ngắn được báo cáo rộng rãi trước khi cuộc
bầu cử diễn ra, Allawi tuyên bố rằng chính phủ “đã quá lún sâu và sự tham quyền
cố vị và tham nhũng… [và] đã để lại cho Iraq sự yếu kém và chia cắt trên bờ vực
của cuộc nội chiến.”15 Ông cũng thẳng thắn ngụ ý rằng một chính phủ
UIA sẽ tiếp tục lấn sâu vào tình trạng giống như Iran được báo trước tại Iraq, và
do đó sẽ gây ra nhiều nhóm phe phái theo một cách mà sẽ dẫn đến sự tan rã của đất
nước.
Hai nhóm liên minh Sunni
tập trung vào các chiến dịch tranh cử bàn về những điều được hiểu như một bước
ngoặt giải quyết vấn đề an ninh: Họ công kích vào chính phủ chuyển tiếp và Bộ Nội
vụ với cáo buộc đã thả lõng, hoặc ít nhất cũng đã khuyến khích, dân quân thường
trực của người Shi’ite trong việc sát hại những người Sunni vô tội để trả đũa
cho hành động tàn bạo của quân nổi dậy người Sunni. Hòa vang với lời cáo buộc của
Allawi, các chính trị gia người Sunni cũng khơi lại bóng ma của cuộc nội chiến
đẫm máu, mà họ đặt nó trực tiếp lên vai của chính phủ chuyển tiếp và thái độ bị
cáo buộc mang đậm màu sắc phe phái và giáo phái của nó.
Chủ đề chính thứ hai của
chiến dịch này là cuộc tranh luận về chủ nghĩa liên bang. Ngay từ lúc xuất hiện
trật tự chính trị mới, những người Kurd đã làm rõ rằng cái giá cho sự sẵn lòng
của họ trở thành một phần của Iraq chính là một sự chấp thuận bởi những người
Shi’ite và người Sunni về một cơ cấu liên bang được thả lỏng mà theo đó người Kurd
sẽ có được quyền tự trị đáng kể trong lòng Iraq. Trong khi ngay từ đầu cuộc
tranh luận này đã làm nổ ra làn sóng phản đối dữ dội về vấn đề trên, nhưng không
lâu sau đó sự tự trị của người Kurd vẫn diễn ra như một việc đã rồi mà ngay cả
những người Sunni cũng phải miễn cưỡng chấp nhận. Nhưng cuộc tranh cãi về thể
chế liên bang này lại xuất hiện với mức độ gia tăng khi thủ lãnh SCIRI và nhà lãnh
đạo của UIA Abd al-Aziz Hakim đề xuất thành lập một đại khu vực của người
Shi’ite bao gồm cả chín tỉnh phía Nam. Những người Sunni nhận thấy động thái
này là một nỗ lực để xác nhận quyền kiểm soát 80 phần trăm nguồn dầu mỏ và khí
đốt dồi dào tại Iraq nằm sâu trong vùng phía nam của người Shi’ite, và thậm chí
như một điềm báo trước cho sự tan rã của Iraq. Sự tố cáo gay gắt kế hoạch này trở
thành một yếu tố chính trong chiến dịch tranh cử của người Sunni.
Một vấn đề khác làm nảy
sinh đụng độ giữa các bên đó là vai trò của tôn giáo trong chính trị. Đảng phi
tôn giáo Liên Danh Quốc Gia Iraq kịch liệt chống lại bất kỳ động thái nào ngầm
đem tôn giáo vào chính trường, và đồng thời chỉ trích trực tiếp vào nhóm Hồi
Gíao Shi’ite UIA. Điều thú vị là những nhóm liên minh bầu cử người Sunni – thuộc
về đảng mạnh nhất, đảng IIP, là một nhánh của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo – cũng ủng
hộ việc tách rời tôn giáo ra khỏi chính trường. Rõ ràng, một nhà nước Hồi giáo của
the Shi’ite variety was hardly palatable to the Sunni fundamentalists.
Trong khi đó, nhóm UIA, tỏ
ra sự khó chịu trong hành động bảo vệ sự không thể tách rời giữa chính trị và
tôn giáo, cho rằng họ cần phải duy trì đúng với bản chất Hồi giáo của mình đồng
thời trấn an những người đi bầu rằng tôn giáo sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trong
nhiều yếu tố định hình nên chính trị.16
Đi đầu trong các cuộc tranh
luận về vai trò của tôn giáo trong chính trị là hình ảnh của Ayatollah Vĩ Đại
Sistani, giáo sĩ cấp cao và được sùng kính nhất của người Shi’ite. Trong khi vị
ayatollah ẩn dật này bản thân Ông đã không đưa ra ý kiến hay phát biểu gì đến
công chúng trong chiến dịch tranh cử, thì các trợ thủ và đồ đệ của Ông đã làm
thay điều đó, nhấn mạnh tính trung lập của Ông. Tuy vậy, điều này cũng không làm
cho UIA và các nhóm người Shi’ite khác ngừng lợi dụng Sistani cho lý lẽ của họ
bằng cách gọi tên Ông, tuyên bố trung thành với Ông, và đưa hình ảnh của Ông
lên các tấm áp phích – một thực tế cay đắng đã bị lên án bởi các nhóm khác, đặc
biệt là các thành viên trong nhóm Liên Danh Iraq.
Cuối cùng, chiến dịch tranh
cử đã chứng kiến nhiều tài liệu có liên quan đến “sự chiếm đóng” Iraq do Hoa Kỳ
và các lực lượng đồng minh khác thực hiện. Nhưng chủ đề này chưa bao giờ kỳ vọng
có khả năng sẽ trở thành vấn đề nóng bỏng có thể gây tiếng vang trong chiến dịch.
Không bên nào ủng hộ sự chiếm đóng không có ranh giới xác định, và tất cả họ đều
cam kết sẽ đàm phán với Hoa Kỳ về thời gian ra hạn cho sự lui quân, có xét đến
những hạn chế hiện tại. Tự nhiên mà nói, các đảng phái của người Sunni có sức
kiên trì bền bỉ nhất, nhưng ngoài trừ Hội Đồng Các Học Giả Hồi Giáo tiên khởi –
đã từ chối tham gia trong cuộc bầu cử khi Iraq đang còn bị chiếm đóng – thì không
có đảng nào từng có một chủ trương nhằm thúc đẩy sự rút lui của Hoa Kỳ ngay lập
tức.
Mặc dù bạo lực và sự chia
rẽ dần ngấm ngầm vào chiến dịch tranh cử, nhưng những người Iraq đi bỏ phiếu với
một nhận thức rõ ràng về các nhóm liên minh chính đang hướng tới vấn đề quan trọng
nào. Cuộc tranh luận bầu cử nhìn chung đang được hấp thụ và đồng thời khá phức
tạp, cho thấy rằng nó có tác động đến hành vi bỏ phiếu của người dân. Tuy vậy,
khi những người đi bầu cuối cùng cũng đã bỏ phiếu, họ sau hết cũng đã chuyển
sang lòng trung thành ban đầu của mình nhiều như họ từng làm trong các cuộc bầu
cử ngày 30 tháng Một.
Hơn 12 triệu người Iraq –
đại diện cho con số hơn 77 phần trăm những người tham gia bỏ phiếu đã đăng kí –
vào ngày 15 tháng Mười Hai.17 Hai tỉnh của người Sunni, Salah al-Din
và Anbar, ba tỉnh của người Kurd Erbil, Duhok, và Sulaymaniya, và tỉnh Kirkuk với
đa số là người Kurd có lượng người tham gia bỏ phiếu là cao nhất (84 phần trăm
trở lên). Lượng người đi bầu trung bình tại chín tỉnh của người Shi'ite giảm xuống
dưới con số quốc gia còn 71 phần trăm, cùng với Baghdad là một trong những khu
vực có số người tham gia bỏ phiếu là thấp nhất, tuy vẫn giữ được ở mức độ 70 phần
trăm.
Để đảm bảo sự thanh liêm
của các cuộc bầu cử, IECI đã triển khai 126.125 giám sát viên ở tất cả 18 tỉnh.
Ngoài 949 quan sát viên quốc tế, các đảng phái và liên minh chính trị tự đưa ra
272.295 đặc phái viên khác tại 31.348 điểm bỏ phiếu trên toàn quốc. Như lời nhận
xét của trưởng ban phụ trách bầu cử: “Cuộc bầu cử này đã nhận được nhiều sự quan
sát nhất trên toàn thế giới.”18
Tuy nhiên, khi một phần kết
quả được công bố vài ngày sau khi cuộc bầu cử diễn ra, cho thấy sự chiến thắng
của UIA, một cơn mưa khiếu nại đã bùng phát cáo buộc gian lận tràn lan tại
Baghdad và các khu vực của người Sunni. Hàng ngàn người biểu tình đã xuống đường
tố cáo IECI và cáo buộc nhóm này có hành vi tương tự UIA. Sức ép trở nên mãnh
liệt hơn khi IECI tránh công bố kết quả đầy đủ cuối cùng cho đến khi một ủy ban
quốc tế, đã đến Baghdad vào cuối tháng Mười Hai, xem qua 1.985 khiếu nại nhận
được từ IECI. Ủy ban quốc tế đã công bố rằng các vi phạm đó đã thực sự xảy ra, nhưng
chỉ là một phần nhỏ và sẽ không ảnh hưởng đến sự phân bổ cuối cùng vào những ghế
trong Hội Đồng. Do đó, kết quả cuối cùng và đầy đủ được công bố vào ngày 17
tháng Một năm 2006 và được chứng thực vào ngày 10 tháng Hai, xác nhận một lần nữa
cả hai chiến thắng của UIA và vai trò mạnh mẽ của tôn giáo trong cuộc bỏ phiếu này
(Bảng 1).
Các kết quả cho thấy một
ưu thế rõ ràng về lòng trung thành tôn giáo dân tộc. Bất cứ hy vọng nào về việc
mọi người sẽ bỏ phiếu để tách biệt tôn giáo ra khỏi chính trị hoặc để vượt qua
các khe nứt dân tộc đều phải phá sản. Mong muốn, rõ ràng đã được ấp ủ bởi chính
quyền Bush, về một biểu hiện quyền lực của nhóm phi tôn giáo Liên Danh Iraq sẽ
củng cố vai trò thương lượng của Allawi – hoặc thậm chí cho phép Ông nổi lên như
một nhân vật trung tâm trong liên minh phi tôn giáo – đã bị tan vỡ khi đảng này
cuối cùng chỉ đạt được khoảng 8 phần trăm số phiếu bầu, mất gần một nửa số ghế
mà họ đã có được trong cuộc bầu cử hồi tháng Một năm 2005. Sự đánh giá về nhân
vật tôn giáo dân tộc thông qua cuộc bầu cử thì tốt hơn nên được quan sát chỉ
khi nó được tiến hành ở cấp tỉnh. Như Bảng 2 cho thấy, UIA chiếm ưu thế bầu cử
tại chín tỉnh của người Shi'ite ở phía Nam, thắng 70 trên 81 số ghế của khu vực.19
Hai liên danh của nhóm người Kurd (phi tôn giáo và Hồi giáo) cùng giành được tất
cả 35 ghế tại Kurdistan. Và liên danh của người Sunni thắng 15 trong tổng số 17
ghế ở tỉnh Anbar và Salah al-Din của người Sunni.
Vì sao sự thay đổi trong
cơ chế bầu cử không có tác dụng rõ ràng làm giảm đi yếu tố tôn giáo trong cuộc
bỏ phiếu? Có ít nhất ba lý giải khả thi sau. Đầu tiên, các khu vực bầu cử đã được
xác định rõ ràng qua các cuộc bầu cử vào ngày 30 tháng Một và qua cơ chế bầu cử
cũ. Kết hợp tất cả lại đã tiết lộ cho chúng ta bản chất của chính phủ và chính
trị kể từ sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein, các cuộc bầu cử tháng Một đã tạo
nên động lực như thế đối với màu sắc chính trị mà đang bị đòi hỏi quá nhiều về
một cơ chế bầu cử phân theo khu vực nhằm tạo ra nhiều thay đổi. Thứ hai, điều
mà ta có thể mong đợi về cơ chế PR dựa trên khu vực để hỗ trợ bầu cử cho các ứng
cử viên địa phương và độc lập. Tuy nhiên, trong bối cảnh bạo lực lan rộng, một loạt
ứng viên quan trọng thậm chí không chịu tiết lộ danh tín của họ, chỉ cung cấp thông
tin thuộc đảng phái và liên minh nào.
Thứ ba, liên danh duy nhất
vượt qua sự bất đồng sâu nặng về tôn giáo và dân tộc của đất nước này thuộc về
một chính trị gia, Iyad Allawi, người từng làm Thủ tướng lâm thời đã phải gánh
chịu hầu hết các sai sót trong sự làm việc không hiệu quả mà sau đó ông lên án chính
phủ chuyển tiếp UIA, và những người bị bêu xếu như một cựu Ba'athist và đã trả
tiền cho CIA. Điều này nhấn mạnh rằng, khi những áp lực và sức ép tiềm ẩn có được
sức mạnh và sức phòng thủ, thì một sự thay đổi trong cơ chế bầu cử có thể giúp
phần nào vượt qua các khó khăn trong tương lai gần.
Các Tổ Chức Ban Hành Chính Sách Mới
Vì không có bên nào đạt
được phần lớn số ghế sau cuộc bầu cử, nên các thành viên được bầu ra trong Hội
Đồng Quốc Gia sẽ phải vượt qua những dòng chảy tôn giáo dân tộc để có thể đưa
ra quyết định về một vấn đề gì đó. Trong thực tế, tỉ lệ hai phần ba (184 trên tổng
số 275 thành viên) là con số cần thiết để các biểu quyết quan trọng được đưa ra.
Trước hết, không một chính phủ nào có thể được thành lập cho đến khi hai phần
ba thành viên Hội Đồng Quốc Gia đồng thuận với tất cả các ứng cử viên cho vị
trí Hội Đồng Tổng Thống. Hơn nữa, để xây dựng một liên minh hiệu quả, các yếu tố
khác cũng cần phải được xem xét hơn là chỉ thông qua những con số. Chẳng hạn
như, nỗi ám ảnh về các phiến quân đã khiến cho các yêu cầu của người Sunni có trọng
lượng hơn so với 55 số ghế của họ. Mặc dù tất cả các bên đều biết rõ rằng người
Sunni phải có chân trong chính phủ, nhưng một vấn đề khó khăn sau khi cuộc bầu
cử diễn ra đó là làm thế nào để cân bằng việc phân bổ các vị trí trong nội các
chính phủ giữa các nhóm liên minh có triển vọng. Sự tranh cãi cho thấy sự khác
biệt rõ ràng trong những nguyện vọng và địa vị của các bên khác nhau: Trong khi
người Sunni bàn về một chính phủ quốc gia thống nhất, với ngụ ý về sự bình đẳng
giữa mọi nhóm liên minh, thì UIA lại nhấn mạnh một sự cân bằng trong chính phủ chỉ
dựa trên kết quả bầu cử.20 Vì mục đích đạt được sự thành công trong
sự quản lý và hoạch định chính sách có hiệu quả, những thỏa hiệp quan trọng
trên tất cả các mặt sẽ cần phải được thực hiện và tuân thủ, không chỉ trong
giai đoạn trước mắt mà còn trong suốt nhiệm kỳ bốn năm của Hội Đồng Quốc Gia.
Một yếu tố giúp gia tăng việc
hình thành các nhóm liên minh đó là, trong khi các liên danh đảng phái khác
nhau có vẻ khá giống nhau với những vấn đề liên quan đến bản sắc, thì giữa họ lại
có sự khác biệt trên nhiều mặt khác. UIA là trường hợp đặc biệt đáng chú ý về
phương diện này. Trong khi chủ nghĩa Hồi giáo Shi’ite là yếu tố tạo nên bốn
nhóm cử tri chính – SCIRI, al-Da'wah, al-Fadhilah, và Sadrists – thì những căng
thẳng cá nhân, sự ganh đua theo dòng lịch sử, và những khác biệt về chính sách đang
len lỏi trong mối quan hệ của họ. Thực ra, al-Fadhilah đã tuyên bố rút ra khỏi
UIA vào ngày 01 tháng Mười Một, với lý do không hài lòng về một số chính sách
và cách xử lý vấn đề trong việc phân bổ số ghê trong Hội Đồng Quốc Gia của
Hakim. Họ cuối cùng chỉ còn gắn kết một phần nào đó với UIA chỉ vì IECI đã
không chấp nhận yêu cầu của họ.21
Sự khác biệt xuất hiện
sau cuộc bầu cử là khi al-Fadhila bàn về khả năng thương lượng với nhóm Allawi,
có vẻ đã phá vỡ sự đồng thuận của UIA và điều này đã phải nhận khiển trách nặng
nề từ Sadrists.22 Không có điều nào làm ảnh hưởng đến mối quan hệ
huynh đệ vững vàng giữa SCIRI và Sadrists. Sadrists, bất mãn với cách hành xử
ra vẻ của Hakim như đầu não quan trọng của UIA, chỉ trích Ông vì đã thương lượng
với những người Kurd sau cuộc bầu cử, gọi đó là “một nỗ lực cá nhân không xứng
đáng với phước lành từ UIA.”23 Sadrists dường như có cùng quan điểm
rõ rệt với các nhóm Hồi giáo dòng Sunni, và như vậy họ không ủng hộ ý tưởng về
một khu vực ghép từ 9 tỉnh của người Shi’ite. Hơn nữa, các lực lượng của SCIRI
và Sadr đã đụng độ đẫm máu trong thời gian qua.
Sự chia rẽ trong các nhóm
khác có thể không được công bố công khai, nhưng điều đó là có thật. Điều này sẽ
không xảy ra một khi sự hợp tác của hai nhà lãnh đạo người Kurd, Barzani và
Talabani, và các đảng của họ vẫn đứng vững trước thử thách của thời gian, hoặc một
khi hai khối Sunni vẫn chắc chắn sẽ bỏ phiếu cho nhau và kiềm chế những khác biệt
chính trị và tránh gia nhập vào liên minh khác. Do đó, có một số khả năng trong
Hội Đồng Quốc Gia mới này sẽ nảy sinh thêm các nhóm liên minh chính trị khác, vì
có thêm các vấn đề mới xuất hiện cùng với những lợi ích quyền lực đang chờ đợi được
phân chia. Với sự may mắn của thời vận và năng lực quản lý chính trị khéo léo, có
khả năng Iraq sẽ dần dần rời xa sự phân cực sắc tộc và tôn giáo ở mức độ cao xảy
ra trong năm vừa trải qua, “năm bầu cử ngặt nghèo.” Khả năng kiểm soát và làm
giảm sự phân cực này của các chính trị gia và các đảng phái, thông qua đàm phán
và hứa hẹn, sẽ có nhiều khả năng quyết định không chỉ trong phạm vi của sự phát
triển dân chủ mà thậm chí còn có khả năng giữ vững sự thống nhất của Iraq.