Richard W. Soudriette và Andrew Ellis
Richard W. Soudriette là Chủ
tịch của IFES (được thành lập với tên gọi Quỹ Quốc tế về Hệ thống bầu cử) từ
năm 1988. Là tác giả của rất nhiều bài báo, ông hiện đang đồng tác giả của một
cuốn sách về tầm quan trọng củ quản lý bầu cử trong việc thúc đẩy dân chủ.
Andrew Ellis, người đứng đầu Nhóm Quy trình bầu cử tại IDEA Quốc tế ở
Stockholm, là đồng tác giả của cuốn Thiết kế Hệ thống Bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc
tế mới. Ông đã từng làm việc cho Viện Dân chủ Quốc gia và Ủy ban châu Âu. Bài tiểu
luận này ban đầu xuất hiện trong ấn bản tháng Tư năm 2006 của Tạp chí Dân chủ.
Ngày nay, phòng bầu cử đã trở thành công cụ được chấp nhận toàn cầu
trong việc thay đổi chính trị. Năm 1974, chỉ có 39 nền dân chủ thông qua bầu cử
- tức là, các nước nơi mà các cuộc bầu cử quốc gia đa đảng diễn ra một cách thường
xuyên. Đến năm 2006, đã có ít nhất 120 quốc gia có thể được coi là nền dân chủ
bầu cử ở dạng này hay dạng khác.
Thiết kế một hệ thống bầu cử là một bước tách biệt và cơ bản trong việc
xây dựng một nền dân chủ bền vững. Khi suy nghĩ về việc thiết kế một hệ thống bầu
cử, bắt buộc phải xem xét đến truyền thống và đặc trưng của quốc gia về lịch sử,
văn hóa, và xã hội học của quốc gia đó. Một hệ thống hoạt động tốt trong một nước
ở một thời điểm nào đó thì có thể sẽ không hoạt động hiệu quả ở một nước khác
hoặc thậm chí ở cùng đất nước đó nhưng ở một thời điểm khác. Các nước đang phát
triển kế thừa mô hình bầu cử của nước đế quốc của họ, mà đôi khi là không có sự
phản biện, có thể không có hệ thống bầu cử đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của họ.
Bầu cử là không phải là một yếu tố của quá trình dân chủ có thể được xem
xét một cách độc lập. Hiệu quả của hệ thống bầu cử có liên quan với các hệ thống
đảng chính trị, việc phát triển hiến pháp, các cơ quan hành pháp, và các vấn đề
về thể chế, tiêu chuẩn khung khác. Sự thành công của bất kỳ hệ thống nào đều
đòi hỏi sự đồng thuận hợp pháp bởi chính người dân của quốc gia đó. Thực tế
trên thế giới có các hệ thống chính trị vô cùng đa dạng được áp dụng, và việc phân
loại chúng thông qua những lợi thế và bất lợi của từng hệ thống không phải là một
công việc dễ dàng. Một hướng dẫn rất hữu ích cho hệ thống bầu cử trên thế giới
là cuốn Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay
IDEA Quốc tế mới 1, ở đó chúng ta rút ra những điều sau đây.
Thế
giới của các Hệ thống Bầu cử
Như được chỉ ra ở Bảng 1 trong các trang sau đây, các hệ thống bầu cử được
sử dụng để lựa chọn các nhà lập pháp quốc gia rất phong phú và đa dạng. Trong
hơn nửa thế kỷ qua, các học giả nổi tiếng như Maurice Duverger, Giovanni
Sartori, Arend Lijphart, Donald Horowitz, Andrew Reynolds, và Ben-Jamin Reilly
đã vật lộn với chủ đề hệ thống bầu cử và tác động của chúng tới nền dân chủ. Dựa
trên thành quả nghiên cứu của họ và của những người khác, chúng ta có thể phân loại
các hệ thống bầu cử thành bốn nhóm chính.
Đa nguyên /đa số. Các ứng cử viên thắng cử trên cơ sở đa số
phiếu bầu, thường ở những khu vực riêng
biệt*single-member districts (trong đó chỉ được có một đại diện duy nhất trong
cơ quan lập pháp). Có năm loại chủ yếu trong nhóm này: First Past the Post* (FPTP), Hệ thống Hai vòng (TRS), Bầu thay thế
(AV), Bầu chặn (BV), và Bầu Chặn Đảng*
(PBV). FPTP là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong nhóm này, tiếp theo là TRS.
Hầu như tất cả các nước lựa chọn tổng thống thông qua bầu cử công khai trực tiếp
đều sử dụng FPTP hoặc TRS cho mục đích bầu cử. Tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn
trong các hệ thống bầu cử được các quốc gia sử dụng để bầu ra các nhà lập pháp.
Trong hệ thống FPTP, được áp dụng các khu vực riêng biệt*, người chiến thắng là ứng cử viên nhận được nhiều
phiếu hơn bất cứ ai khác, ngay cả khi họ chưa nhận được đa số phiếu bầu. Hệ thống
hai vòng, như tên gọi của nó, đòi hỏi phải có một vòng bỏ phiếu thứ hai nếu
không có ứng cử viên nào trong vòng bỏ phiếu đầu tiên giành một tỷ lệ phần trăm
chiến thắng nhất định, thường là một chiến thắng tuyệt đối (50 phần trăm + 1
phiếu). Tùy thuộc vào loại TRS, hai hoặc nhiều hơn các ứng cử viên dẫn đầu ở
vòng đầu tiên có thể tiếp tục tranh cử ở vòng thứ hai; nếu có nhiều hơn hai ứng
cử viên được phép vào vòng thứ hai, người chiến thắng là ứng cử viên có số phiếu
cao nhất, thậm chí nếu chưa đạt một chiến thắng tuyệt đối.
Hệ thống AV, thường được áp dụng ở các khu vực riêng biệt*, là một hệ thống bầu cử "ưu tiên"
trong đó cử tri xếp hạng các ứng cử viên theo thứ tự tùy theo ưu tiên của họ. Một
ứng cử viên chiến thắng tuyệt đối vị trí ưu tiền đầu tiên sẽ giành được ghế; nếu
không có ứng cử viên giành được đa số tuyệt đối ưu tiên đầu tiên, thì các ứng cử
viên nhận số lượng ít nhất phiếu ưu tiên đầu tiên sẽ bị loại bỏ, và lá phiếu của
họ được phân bố đều cho các ứng cử viên còn lại cho đến khi đạt được một chiến
thắng tuyệt đối.
|
BẢNG 1— HỆ THỐNG
BẦU CỬ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP
| |||||
|
TÊN
NƯỚC
|
CƠ
QUAN LẬP PHÁP
|
TỔNG
THỐNG
|
TÊN
NƯỚC
|
CƠ
QUAN LẬP PHÁP
|
TỔNG
THỐNG
|
|
Afghanistan
|
Khác
(SNTV)
|
TRS
|
Equatorial
Guinea
|
PR
(List)
|
FPTP
|
|
Albania
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
Eritrea
|
T
|
T
|
|
Algeria
|
PR
(List)
|
TRS
|
Estonia
|
PR
(List)
|
—
|
|
Andorra
|
Hỗn
hợp (PS)
|
—
|
Ethiopia
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
|
Angola
|
PR
(List)
|
TRS
|
Fiji
|
P/M
(AV)
|
—
|
|
Antigua
& Barbuda
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Phần
Lan
|
PR
(List)
|
TRS
|
|
Argentina
|
PR
(List)
|
TRS
|
Pháp
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Armenia
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
Gabon
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Australia
(Úc)
|
P/M
(AV)
|
—
|
The
Gambia
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
|
Aó
|
PR
(List)
|
TRS
|
Georgia
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
|
Azerbaijan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
Đức
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
|
Bahamas
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Ghana
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
|
Bahrain
|
P/M
(TRS)
|
—
|
Hi
Lạp
|
PR
(List)
|
—
|
|
Bangladesh
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Grenada
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
|
Barbados
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Guatemala
|
PR
(List)
|
TRS
|
|
Belarus
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
Guinea
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
|
Bỉ
|
PR
(List)
|
—
|
Guinea-Bissau
|
PR
(List)
|
TRS
|
|
Belize
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Guyana
|
PR
(List)
|
FPTP
|
|
Benin
|
PR
(List)
|
TRS
|
Haiti
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Bhutan
|
N
|
—
|
Honduras
|
PR
(List)
|
FPTP
|
|
Bolivia
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
TRS
|
Hungary
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
|
Bosnia-Herzegovina
|
PR
(List)
|
FPTP
|
Iceland
|
PR
(List)
|
FPTP
|
|
Botswana
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
India
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
|
Brazil
|
PR
(List)
|
TRS
|
Indonesia
|
PR
(List)
|
TRS
|
|
Brunei
|
N
|
—
|
Iran
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Bulgaria
|
PR
(List)
|
TRS
|
Iraq
|
PR
(List)
|
—
|
|
Burkina
Faso
|
PR
(List)
|
TRS
|
Ireland
|
PR
(STV)
|
AV
|
|
Burma
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Israel
|
PR
(List)
|
—
|
|
Burundi
|
PR
(List)
|
—
|
Italy
(Ý)
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
|
Campuchia
|
PR
(List)
|
—
|
Jamaica
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
|
Cameroon
|
P/M
& PR
|
FPTP
|
Nhật
Bản
|
Hỗn
hợp (PS)
|
—
|
|
Canada
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Jordan
|
Khác
(SNTV)
|
—
|
|
Cape
Verde
|
PR
(List)
|
TRS
|
Kazakhstan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
|
Cộng
hòa Trung Phi
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
Kenya
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
|
Chad
|
P/M
& PR
|
TRS
|
Kiribati
|
P/M
(TRS)
|
FPTP
|
|
Chile
|
PR
(List)
|
TRS
|
Kuwait
|
P/M
(BV)
|
—
|
|
Trung
Quốc
|
N
|
—
|
Kyrgyzstan
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Colombia
|
PR(List)
|
TRS
|
Lào
|
P/M
(BV)
|
—
|
|
Comoros
|
P/M(TRS)
|
FPTP
|
Latvia
|
PR
(List)
|
—
|
|
Congo
(Brazzaville)
|
P/M
(TRS)
|
FPTP
|
Li
băng
|
P/M
(BV)
|
—
|
|
Congo
(Kinshasa)
|
T
|
T
|
Lesotho
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
|
Costa
Rica
|
PR
(List)
|
TRS
|
Liberia
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
|
Côte
d’Ivoire
|
P/M
|
TRS
|
Libya
|
N
|
—
|
|
Croatia
|
PR
(List)
|
TRS
|
Liechtenstein
|
PR
(List)
|
—
|
|
Cuba
|
P/M(TRS)
|
—
|
Lithuania
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
|
Síp
|
PR
(List)
|
TRS
|
Luxembourg
|
PR
(List)
|
—
|
|
Cộng
hòa Séc
|
PR
(List)
|
—
|
Macedonia
|
PR
(List)
|
TRS
|
|
Đan
Mạch
|
PR
(List)
|
—
|
Madagascar
|
P/M
& PR
|
TRS
|
|
Djibouti
|
P/M
(PBV)
|
TRS
|
Malawi
|
P/M
(FPTP)
|
FPTP
|
|
Dominica
|
P/M(FPTP)
|
—
|
Malaysia
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
|
Công
hòa Dominica
|
PR
(List)
|
TRS
|
Maldives
|
P/M
(BV)
|
—
|
|
Đông
Timor
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
Mali
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
Ecuador
|
PR
(List)
|
TRS
|
Malta
|
PR
(STV)
|
—
|
|
Ai
Cập
|
P/M
(TRS)
|
—
|
Đảo
Marshall
|
P/M
|
—
|
|
El
Salvador
|
PR
(List)
|
TRS
|
Mauritania
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
|
TÊN
NƯỚC
|
CƠ
QUAN LẬP PHÁP
|
TỔNG
THỐNG
|
TÊN
NƯỚC
|
CƠ
QUAN LẬP PHÁP
|
TỔNG
THỐNG
| |
|
Mauritius
|
P/M
(BV)
|
—
|
Thụy
Điển
|
PR
(List)
|
—
| |
|
Mexico
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
FPTP
|
Thụy
Sỹ
|
PR
(List)
|
—
| |
|
Micronesia
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Syria
|
P/M
(BV)
|
—
| |
|
Moldova
|
PR
(List)
|
—
|
Đài
Loan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
FPTP
| |
|
Monaco
|
Hỗn
hợp (PS)
|
—
|
Tajikistan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
| |
|
Mongolia
|
P/M
(TRS)
|
TRS
|
Tanzania
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
| |
|
Morocco
|
PR
(List)
|
—
|
Thái
Lan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
—
| |
|
Mozambique
|
PR
(List)
|
TRS
|
Togo
|
P/M
(TRS)
|
TRS
| |
|
Namibia
|
PR
(List)
|
TRS
|
Tonga
|
P/M
(BV)
|
—
| |
|
Nauru
|
Khác
(MBC)
|
—
|
Trinidad
và Tobago
|
P/M
(FPTP)
|
—
| |
|
Nepal
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Tunisia
|
Hỗn
hợp (PS)
|
FPTP
| |
|
Hà
Lan
|
PR
(List)
|
—
|
Thổ
Nhĩ Kỳ
|
PR
(List)
|
—
| |
|
New
Zealand
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
—
|
Turkmenistan
|
P/M
(TRS)
|
TRS
| |
|
Nicaragua
|
PR
(List)
|
TRS
|
Tuvalu
|
P/M
(BV)
|
—
| |
|
Niger
|
P/M
& PR
|
TRS
|
Uganda
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
| |
|
Nigeria
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
Ukraine
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
| |
|
Bắc
Triều Tiên
|
P/M
(TRS)
|
—
|
Liên
bang cộng hòa Ả Rập
|
N
|
—
| |
|
Na
Uy
|
PR
(List)
|
—
|
Vương
quốc Anh
|
P/M
(FPTP)
|
—
| |
|
Oman
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ
|
P/M
(FPTP)
|
FPTP
| |
|
Pakistan
|
Hỗn
hợp (PS)
|
—
|
Uruguay
|
PR
(List)
|
TRS
| |
|
Palau
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
Uzbekistan
|
P/M
(TRS)
|
TRS
| |
|
Panama
|
P/M
& PR
|
FPTP
|
Vanuatu
|
Other
(SNTV)
|
—
| |
|
Papua
New Guinea
|
P/M
(AV)
|
—
|
Venezuela
|
Hỗn
hợp (MMP)
|
FPTP
| |
|
Paraguay
|
PR
(List)
|
FPTP
|
Việt
Nam
|
P/M
(TRS)
|
—
| |
|
Peru
|
PR
(List)
|
TRS
|
Yemen
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
| |
|
Philippines
|
Hỗn
hợp (PS)
|
FPTP
|
Zambia
|
P/M
(FPTP)
|
FPTP
| |
|
Ba
Lan
|
PR
(List)
|
TRS
|
Zimbabwe
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
| |
|
Bồ
Đào Nha
|
PR
(List)
|
TRS
| ||||
|
Qatar
|
N
|
—
| ||||
|
P/M–Đa
nguyên/đa số
| ||||||
|
Romania
|
PR
(List)
|
TRS
| ||||
|
Nga
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
FPTP–First
Past the Post
| |||
|
Rwanda
|
PR
(List)
|
FPTP
|
TRS–Hệ
thống hai vòng
| |||
|
St.
Kitts & Nevis
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
AV–Bầu
cử thay thế
| |||
|
St.
Lucia
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
BV–Bầu
cử chặn
| |||
|
St.
Vincent
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
PBV–Bầu
cử chặn đảng
| |||
|
Samoa
|
P/M
|
—
|
SV–Bầu
bổ sung
| |||
|
San
Marino
|
PR
(List)
|
—
|
PR–Đại
diện tỷ lệ
| |||
|
S~ao
Tomé & Príncipe PR (List)
|
TRS
|
List–Danh
sách đại diện tỷ lệ
| ||||
|
Ả
Rập Saudi
|
N
|
—
|
STV–Đơn
phương chuyển nhượng phiếu
| |||
|
Senegal
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
Hỗn
hợp
| |||
|
Serbia
và Montenegro
|
T
|
T
|
PS–Hệ
thống song song
| |||
|
Seychelles
|
Hỗn
hợp (PS)
|
TRS
|
MMP–Hỗn
hợp tỷ lệ thành viên
| |||
|
Sierra
Leone
|
PR
(List)
|
TRS
|
Khác
| |||
|
Singapore
|
P/M
|
FPTP
|
SNTV–
Bầu không đơn phương chuyển nhượng phiếu
| |||
|
Slovakia
|
PR
(List)
|
TRS
|
LV–Bầu
giới hạn
| |||
|
Slovenia
|
PR
(List)
|
TRS
|
MBC–Modified
Borda Count*
| |||
|
Đảo
Solomon
|
P/M
(FPTP)
|
—
|
N–Không
bầu cử trực tiếp
| |||
|
Somalia
|
T
|
T
|
T–Đất
nước trong thời kỳ quá độ (hệ thống bầu cử mới chưa được quyết định tại thời
điểm thiết lập)
| |||
|
Nam
Phi
|
PR
(List)
|
—
| ||||
|
Hàn
Quốc
|
Hỗn
hợp (PS)
|
FPTP
| ||||
|
Tây
Ban Nha
|
PR
(List)
|
—
| ||||
|
Sri
Lanka
|
PR
(List)
|
SV
|
Bảng
này là bản sửa đổi của một bảng quy mô rộng hơn xuất hiện trong cuốn
| |||
|
Sudan
|
P/M
(FPTP)
|
TRS
|
Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới
(2005)
| |||
|
Suriname
|
PR
(List)
|
—
| ||||
|
Swaziland
|
P/M
(FPTP)
|
—
| ||||
Trong hệ thống BV, được sử dụng ở các khu vực đa thành viên*multimember districts (có nhiều hơn một thành viên đại
diện trong cơ quan lập pháp), các cử tri được cung cấp số phiếu bằng với số ghế
được bầu ở khu vực của họ, và các ứng cử viên với tổng số phiếu bầu cao nhất
giành chiến thắng. Trong hệ thống PBV, cũng được sử dụng trong các khu vực đa thành viên*, cử tri bỏ phiếu
cho đảng hơn là bầu cho ứng viên, và đảng nào thu hút được nhiều phiếu bầu nhất
sẽ chiến thắng tất cả các ghế. Hai hệ thống này có thể được coi là “hypermajoritarian*”,
trong đó họ có xu hướng chuyển dịch lợi thế nhỏ về phiếu bầu thành lợi thế lớn
hơn về ghế.
Các hệ thống đa nguyên / đa số được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới.
Cùng với Vương quốc Anh và nhiều cựu thuộc địa của nó, bao gồm cả Ấn Độ và
Canada, Hoa Kỳ từ lâu đã chấp nhận hệ thống FPTP. Mặt khác, TRS được sử dụng ở
Pháp và nhiều nước có lịch sử chịu ảnh hưởng của nước Pháp. AV được sử dụng ở cấp
độ quốc gia tại Úc, Fiji và Papua New Guinea. BV được sử dụng ở 11 quốc gia,
vùng lãnh thổ trải rộng trên toàn thế giới, chủ yếu ở các đơn vị nhỏ hơn, nơi mà
các đảng được đánh giá là yếu. PBV được sử dụng ở Cameroon, Chad, Djibouti, và
Singapore.
Đại diện tỷ lệ (PR)*. Mục tiêu chính của PR là để chuyển phần
phiếu bầu mà một đảng nhận được thành một tỷ lệ tương ứng của các ghế trong cơ
quan lập pháp. Nó chỉ được sử dụng tại các khu
vực đa thành viên*. Có hai loại chính của hệ thống PR: List PR và Bầu cử đơn phương chuyển giao (STV)*. List PR* phổ biến trên thế giới hơn so
với STV.
Với hệ thống List PR, các ghế được phân bổ cho các đảng chính trị trên
cơ sở phiếu bầu cho danh sách các đảng, với tỷ lệ phần trăm số phiếu tại các
thùng phiếu được làm tròn thành tỷ lệ ghế trong cơ quan lập pháp. List PR được
đưa vào thực hiện theo những cách khác nhau. Trong các hệ thống "danh sách
đóng", cử tri chỉ có thể bỏ phiếu cho các đảng nằm trong danh sách, và
không thể hiện bất kỳ ưu tiên nào cho các ứng cử viên cá nhân. Trong các hệ thống
"danh sách mở", cử tri có thể thể hiện sự ưu tiên cho các ứng viên
trong danh sách đảng, trong khi hệ thống "danh sách tự do", họ thậm
chí có thể thể hiện sự ưu tiên cho một ứng cử viên ngoài danh sách đảng mà họ
đã chọn.
Với hệ thống STV, cử tri xếp hạng các ứng cử viên. Hạn ngạch số phiếu cần
thiết để chiến thắng được xác định, và bất kỳ ứng cử viên nào nhận được ít nhất
bằng số phiếu đó ngay lập tức giành một ghế. Ứng cử viên kém thành công nhất
ngay sau đó bị loại và số phiếu của họ được phân phối lại. Phiếu bầu từ các ứng
cử viên thành công vượt trên hạn ngạch cũng được phân phối lại. Việc phân phối
lại tiếp tục cho đến khi các ghế còn lại được lấp đầy.
List PR*, được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu, Mỹ Latinh,
và châu Phi, được sử dụng bởi hơn một phần ba các quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới, nhiều hơn bất kỳ hệ thống nào khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng FPTP
được sử dụng bởi gần gấp đôi dân số thế giới so với List PR (43,5% dân số của
những nước có bầu cử trực tiếp, so với 23,9%), chủ yếu vì FPTP được sử dụng
trong các nước lớn như Ấn Độ và Hoa Kỳ. Hệ thống STV, mặc dù phổ biến với các
nhà khoa học chính trị, được sử dụng ở cấp quốc gia duy nhất ở Cộng hòa Ireland
và Malta.
Hỗn hợp*. Với hệ thống hỗn hợp, có hai nhóm thành
viên được bầu: một nhóm được bầu theo hệ thống đa nguyên / đa số, nhóm còn lại
được bầu theo hệ thống PR. Các cuộc bầu cử cho hai nhóm thành viên có thể được
liên kết để tạo ra một kết quả tỷ lệ tương đối tỉ lệ (Hỗn hợp thành viên tỷ lệ*Mixed-Member Proportional – MMP) hoặc được
tiến hành độc lập với nhau (Hệ thống
song song*Parallel System – PS)
|
BẢNG 2: NHỮNG THAY
ĐỔI TRONG HỆ THỐNG BẦU CỬ (1993-2004)
| |||||||||||
|
Hệ
thống mới
| |||||||||||
|
Hệ
thống cũ
|
Đa nguyên
|
Tổng
| |||||||||
|
/ đa số
|
PR
|
Hỗn
hợp
|
Khác
|
(Hệ
thống cũ)
| |||||||
|
Đa
nguyên/đa số
|
Bermuda
|
Iraq
|
Lesotho
|
Afghanistan
|
19
| ||||||
|
Fiji
|
Moldova
|
Monaco
|
Jordan
| ||||||||
|
Mongolia
|
Rwanda
|
New
Zealand
| |||||||||
|
Montserrat
|
Sierra
Leone
|
Philippines
| |||||||||
|
Papua
NG
|
Nam
Phi
|
Nga
| |||||||||
|
Thái
Lan
| |||||||||||
|
Ukraine
| |||||||||||
|
PR
|
Madagascar
|
Bolivia
|
4
| ||||||||
|
Ý
| |||||||||||
|
Venezuela
| |||||||||||
|
Hỗn
hợp
|
Croatia
|
Mexico
|
3
| ||||||||
|
Macedonia
| |||||||||||
|
Khác
|
Nhật
Bản
|
1
| |||||||||
|
Tổng
(hệ thống mới)
|
6
|
7
|
12
|
2
|
27
| ||||||
Hệ thống MMP đầu tiên phát triển ở Đức trong thời kỳ hậu Thế chiến thứ
II, hiện nay cũng được sử dụng ở Albania, Bolivia, Hungary, Ý, Lesotho, Mexico,
New Zealand, và Venezuela. Hệ thống song
song* được sử dụng ở 21 quốc gia trên toàn cầu, bao gồm cả Liên bang Nga và
Nhật Bản.
Khác. Một số hệ thống khác, chẳng hạn như Single Non-Transferable Vote* (SNTV), Phiếu bầu giới hạn*Limited
Vote (LV), và Borda Count* (BC),
không thực sự phù hợp với bất kỳ loại này. Trong việc chuyển phiếu bầu thành ghế,
các hệ thống này có xu hướng chịu tác động đâu đó từ các hệ thống đa nguyên /
đa số và PR. SNTV đã được sử dụng cho các cuộc bầu cử quốc hội ở Afghanistan
vào năm 2005, mặc dù nó là hệ thống hứng chịu rất nhiều chỉ trích. LV được sử dụng
bởi Tây Ban Nha để bầu thượng viện, trong khi đó chỉ Nauru sử dụng BC.
Những
xu hướng thay đổi hệ thống bầu cử
So sánh những thay đổi giữa năm 1993 và 2004 trong tổng số 213 quốc gia
và vùng lãnh thổ, cuốn “Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới” chỉ
ra 27 sự thay đổi trong hệ thống bầu cử (không bao gồm Kyrgyzstan đã thay đổi hệ
thống bầu cử và sau đó đổi lại). Chúng được tóm tắt trong Bảng 2 ở trên.
Những dữ liệu này cho thấy xu hướng chuyển từ hệ thống đa nguyên / đa số
sang hệ thống PR. Sự thay đổi phổ biến nhất là từ các hệ thống đa nguyên / đa số
sang các hệ thống hỗn hợp (7 quốc gia).
Bảng 2 đánh giá không đầy đủ mức độ thay đổi hệ thống bầu cử trên thế giới.
Ngoài 13% các quốc gia và vùng lãnh thổ đã tiến hành thay đổi kiểu hệ thống của
họ, nhiều quốc gia khác đã thực hiện những thay đổi trong hệ thống hiện tại của
họ, bằng cách thay đổi số lượng thành viên được bầu từ mỗi khu vực bầu cử, bằng
cách đưa ra hoặc thay đổi ngưỡng mức bỏ phiếu tối thiểu mà các đảng hoặc các ứng
cử viên phải đạt được để được phép đại diện, hoặc bằng cách đưa ra hoặc hạn chế
sự lựa chọn của cử tri giữa các ứng cử viên trong danh sách các đảng. Mặc dù những
thay đổi trên có thể mang tính kỹ thuật về bản chất, chúng có thể có những ảnh
hưởng sâu sắc đến những người trúng cử và qua đó ảnh hưởng đến cách hệ thống
chính trị hoạt động.
Trong hầu hết các trường hợp mà các hệ thống bản thân nó đã thay đổi, một
cuộc khủng hoảng đại diện lớn là cần thiết để kích hoạt sự thay đổi. Ở Papua
New Guinea, hơn một nửa những người chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội năm
2002 chỉ cần ít hơn 20% số phiếu, do đó không thể tránh khỏi đặt ra câu hỏi về
tính hợp pháp của những người trúng cử. Theo đó việc chuyển từ hệ thống FPTP sang
AV ở Papua New Guinea trong năm 2003 là điều không đáng ngạc nhiên. Các cuộc khủng
hoảng cũng có thể xảy ra trong các nền dân chủ đã được thiết lập. Trong hai cuộc
tổng tuyển cử liên tiếp tại New Zealand, các đảng có nhiều phiếu bầu nhất lại bị
phản đối; cuối cùng, sau hai lần trưng cầu dân ý được tổ chức vào những năm
1990, hệ thống đã được thay đổi từ FPTP sang MMP. Ở Ý và Nhật Bản, sự mất niềm
tin vào hệ thống chính trị gây ra bởi các vụ bê bối tham nhũng nghiêm trọng
cũng dẫn đến những thay đổi trong hệ thống bầu cử; Ý thay đổi từ List PR sang
MMP vào năm 1993, và Nhật Bản từ SNTV sang hệ
thống song song* vào năm 1994.
Thay đổi hệ thống cũng phát sinh trong quá trình chuyển đổi sang nền dân
chủ-trong khi quá trình chuyển đổi là hòa bình và thúc đẩy bởi trong nước, và gần
như luôn luôn khi quá trình chuyển đổi theo sau một cuộc xung đột bạo lực và nó
được thúc đầy bởi quốc tế. Iraq là một ví dụ điển hình gần đây của điều này. Hệ
thống bầu cử quốc hội hai vòng, được sử dụng trong suốt thời gian của chế độ
quân chủ và là khuôn khổ cho các cuộc bầu cử giả của thời đại Saddam Hussein,
được thay thế bởi một hệ thống List PR*
vào năm 2004-một sự thay đổi do Liên Hiệp Quốc đề xuất và chấp nhận bởi chính
phủ lâm thời Iraq. 2
Ở Mỹ Latinh, có một xu hướng hướng về MMP, với Bolivia, Venezuela và
Mexico đều chuyển động theo hướng này. Như một hậu quả của việc Liên Xô tan rã,
nhiều nước thuộc Liên Xô cũ, như Estonia, Bulgaria, Ba Lan, Moldova và Romania,
chuyển sang hệ thống List-PR*. Các
quốc gia khác, bao gồm cả Hungary, Litva, Nga và Ukraina, đã áp dụng hệ thống hỗn hợp*, trong đó ít nhất một
nửa số ghế trong quốc hội của họ được bầu bởi FPTP và phần còn lại bởi PR.
Điều gì có thể giải thích xu hướng chung này? Hệ thống PR có thể đặc biệt
có giá trị ở những quốc gia nơi cần thiết phải có đa dạng về dân tộc, kinh tế,
xã hội, hay các quốc gia tìm kiếm sự bảo đảm rằng không chỉ các đảng với sự hỗ
trợ đáng kể mà cả các nhóm tương đối nhỏ cũng được đại diện trong hội đồng bầu
ra. Nhìn chung, ngày càng nhiều phụ nữ và người dân tộc thiểu số được bầu vào
cơ quan lập pháp thuộc hệ thống bầu cử theo tỷ lệ. Nền dân chủ mạnh mẽ đã lớn
lên ở nhiều nước châu Âu, những nước đã chọn sử dụng hệ thống List-PR, bao gồm
các nước Bắc Âu và Hà Lan. Năm 1922, Cộng hòa Ireland thông qua STV, đã góp phần
tạo ra một trong các nền dân chủ mạnh nhất và sôi động nhất tại châu Âu.
Có một số trường hợp ngoại lệ đáng chú ý liên quan đến xu hướng thay đổi
chung này; cụ thể là Afghanistan đã đi ngược xu hướng này. Theo định nghĩa, sự
cân xứng yêu cầu các đảng hoặc các nhóm xác định có thể được đại diện theo tỷ lệ
tương ứng. Ở Afghanistan, những lo ngại về sự tham gia của các nhóm chính trị
liên quan đến các lãnh chúa, kết hợp với nghĩa tiêu cực của các khái niệm về đảng
(còn lại từ những năm tháng cộng sản), đã dẫn đến cuộc bầu cử tổng thống được
tiến hành trên cơ sở không đảng phái. Tất cả các ứng cử viên tổng thống chạy đua
với tư cách là các ứng cử viên độc lập trong một hệ thống hai vòng. Trong thời
gian chuẩn bị cho bầu cử năm 2005 của quốc hội cho 249 thành viên của Wolesi Jirga
(hạ viện bầu trực tiếp của cơ quan lập pháp Af-Ghan), thảo luận rộng rãi đã được
tổ chức để quyết định hệ thống bầu cử được sử dụng. Cuối cùng, hệ thống SNTV đã
được lựa chọn. Tổng thống được bầu Hamid Karzai đã cam kết duy trì phi đảng
phái trong hệ thống. 68 trong số 249 ghế được dành riêng cho phụ nữ. Không có đảng
phái nào được cho phép, và tất cả các ứng cử viên tranh cử độc lập.3
Rất khó để đạt được một sự thay đổi trên diện rộng về hệ thống bầu cử. Hệ
thống bầu cử của hầu hết các nước được điều chỉnh bởi pháp luật thông thường,
và do đó hệ thống có thể được thay đổi trong các cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, một
số quốc gia bằng cách nào đó đã đưa các yếu tố của hệ thống bầu cử vào hiến
pháp của họ, và hiến pháp thường khó thay đổi hơn so với luật bình thường. Mặc
dù vậy, cho dù hệ thống bầu cử được điều khiển bởi hiến pháp hay luật pháp
thông thường, ý chí chính trị của một phần giới tinh hoa là cần thiết để thay đổi
hệ thống bầu cử, và giới tinh hoa chính trị sẽ thường không nghiêm túc xem xét
thay đổi đáng kể hệ thống trừ khi họ nhận thấy một số lợi ích cho bản thân họ.
Dù là những người hoạt động chính trị đích thực nhận ra nhu cầu cải cách
hệ thống bầu cử, một vấn đề khác lại nảy sinh trong việc chọn hệ thống bầu cử tốt
nhất thay thế hệ thống cũ. Ở Mexico, sự ra đời của hệ thống song song* năm 1944 đã tạo ra kết quả kém tương xứng tỷ lệ
nhất mà nước này từng có với hệ thống hỗn
hợp*mixed system (hệ thống sau đó lại được thay đổi lại, thành MMP). Thêm nữa,
vì các hệ thống bầu cử quá phức tạp, những lợi ích dài hạn từ hệ thống bầu cử
là khó để có thể đánh giá.
Ảnh
hưởng của thay đổi hệ thống bầu cử
Triển khai thực hiện một hệ thống bầu cử mới là một nhiệm vụ phức tạp.
Trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử, cần xem xét đến tác động của nó đối với
việc quản lý các cuộc bầu cử. Một cuộc bầu cử sẽ thực sự được thực hiện như thế
nào dưới hệ thống bầu cử trong một quốc gia nhất định, và những tác động có thể
có là gì?
Nhiều yếu tố phải được cân nhắc khi xem xét lựa chọn hệ thống bầu cử và
làm thế nào một hệ thống có thể được quản lý một cách hiệu quả trong một quốc
gia. Năm yếu tố quan trọng bao gồm: 1) ranh giới bầu cử; 2) trình độ cử tri; 3)
hiện đại hóa thiết bị bầu cử; 4) phiếu bầu và kiểm phiếu; và 5) tính bền vững
lâu dài.
1) Ranh
giới bầu cử. Quá
trình xác định phạm vi khu vực ràng buộc là một nhiệm vụ chính trị cơ bản: Tất
cả các ranh giới tạo ra người chiến thắng và kẻ thua cuộc trong chính trị. Đặc
biệt trong các hệ thống đa nguyên / đa số, việc thiết kế khu vực là một nhiệm vụ
đầy thách thức và khó khăn. Nhiều quốc gia sử dụng FPTP, như Canada và Anh, được
yêu cầu phải đưa ra ranh giới cho các khu vực single-member* trên cơ sở của quá trình phân định biên giới thường
xuyên. Nếu công việc này phải được thực hiện trước mỗi cuộc bầu cử quốc hội, thì
đó là một quá trình tốn tiền bạc và thời gian. Nếu quá trình này được thực hiện
ít thường xuyên hơn, có thể dẫn đến một sực mất cân đối đáng kể trong kích thước
của các khu vực cử tri. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, ranh giới các bang của Quốc hội được xác định
bởi mỗi cơ quan trong số năm mươi cơ quan lập pháp nhà nước sử dụng dữ liệu được
tạo ra từ các điều tra dân số quốc gia mười năm một lần. Các bản vẽ ranh giới
luôn luôn không ổn định và là vấn đề mang tính chính trị.
Bất kỳ quá trình xác định ranh giới nào cũng
đều đòi hỏi thời gian và tư vấn đáng kể nếu nó muốn được coi là công bằng trong
quá trình bầu cử. Điều này có nghĩa là rất hiếm khi xảy ra việc đưa ra một khu
vực bầu cử mới trong quá trình chuyển đổi dân chủ, khi động lực chính trị và sự
hưng phấn quá độ tạo áp lực gần như không thể cưỡng lại cho cuộc bầu cử diễn ra
trong một thời gian nhanh. Thêm nữa, gần như tất cả những người tham gia chính
trị trong bất kỳ cuộc đàm phán về một khuôn khổ thể chế mới biết rằng sự nhượng
bộ sẽ càng có giá trị khi được thực hiện càng muộn; do đó, gần như không thể
tránh khỏi rằng thời gian sẵn sàng cho quá trình vạch ra ranh giới và cho các
khía cạnh khác của cuộc bầu cử tổ chức sẽ bị mất đi.
2) Trình
độ cử tri. Trong các nền dân chủ mới
thành lập, các nhà lập pháp thường không nắm bắt tốt khái niệm “cử tri của họ”.
Đồng thời, cử tri có thể không hoàn toàn
hiểu rằng họ đang bầu ra đại diện thi hành luật để đại diện cho họ và cộng đồng
của họ. Ở những nước có mức độ mù chữ cao, như Afghanistan, những khái niệm này
có thể đặc biệt khó khăn để truyền đạt nếu không có đầy đủ cử tri và nỗ lực phổ
cập giáo dục người dân. Việc giải thích các phương pháp bỏ phiếu ở các nước có
trình độ dân trí thấp có thể là một công việc đầy thách thức khi các hệ thống
phức tạp hơn được lựa chọn.
3) Hiện
đại hóa trang thiết bị bầu cử. Với xu hướng toàn cầu phát triển theo hướng hiện đại của thiết bị bỏ
phiếu, lựa chọn các hệ thống bầu cử là một trong những yếu tố mà có thể ảnh hưởng
rất lớn đến tiến trình bầu cử. Tại Ấn Độ, sự ra đời của máy bỏ phiếu điện tử đã
giúp làm cho cuộc bầu cử thành công. Hệ thống FPTP hiện tại của Ấn Độ trong cuộc
bầu cử đại biểu Quốc hội đã làm cho Ủy ban Bầu cử Ấn Độ có thể phát triển một hệ
thống điện tử hiệu quả với chi phí thấp; nếu lựa chọn một hệ thống bầu cử khác,
việc phát triển một hệ thống bầu cử điện tử thành công sẽ có gặp nhiều khó khăn
hơn.
Các cơ quan tổ chức bầu cử tại Cộng hòa Ireland đã chi hàng triệu đô la
trong năm 2004 để giới thiệu một hệ thống bầu cử điện tử mới cho các cuộc bầu cử
quốc hội. Tuy nhiên, Ireland lại sử dụng hệ thống Single Transferable Vote*, một hệ thống yêu cầu các cử tri thể hiện
một loạt các ưu tiên trên phiếu bầu. Ở những phút cuối cùng, quyết định đã được
đưa ra nhằm loại bỏ hệ thống bầu cử điện tử do lo ngại rằng hệ thống này không
đủ thân thiện với cử tri. Thay vào đó, Ireland quay trở lại lá phiếu giấy truyền
thống trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2004.
4) Phiếu bầu và kiểm phiếu. Việc các quản trị
viên tổ chức các cuộc bầu cử thân thiện đối với cử tri là vô cùng cần thiết, mặc
dù điều quan trọng là các quản trị viên chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật bầu cử. Các lá phiếu, thiết bị và các thủ tục bỏ phiếu dễ sử
dụng có thể giúp tăng cường tính chính trực của quá trình bầu cử trong con mắt
của cử tri, cũng như tạo nền tảng tích cực cho tương lai. Một ví dụ về việc hệ
thống bầu cử không đáp ứng được các tiêu chí này là ở Fiji. Lá phiếu lập pháp*Legislative ballot
cho phép cử tri bỏ phiếu trong một phần của lá phiếu cho một đảng (và lá phiếu
của họ có thể được chuyển giao cho các ứng cử viên khác theo thứ tự ưu tiên do đảng
đó đưa ra) hoặc trong một phần thứ hai cho các ứng cử viên cá nhân. Nếu cử tri
lựa chọn để bỏ phiếu cho các ứng cử viên cá nhân, sự ưu tiên phải được thể hiện
cho ít nhất ba phần tư số ứng cử viên trên phiếu bầu. Trong hai cuộc bầu cử đầu
tiên được tổ chức cho đến nay trong hệ thống này, hơn 10 phần trăm số phiếu bầu
đã không hợp lệ.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội Iraq vào tháng 12/2005, tổng cộng 996 đảng và
các tổ chức chính trị được thể hiện trên lá phiếu, trình bày tổng cộng 7.655 ứng
cử viên. Cử tri đã phải đối mặt với lá phiếu khổng lồ cỡ voi ma mút cũng như phải
đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn cuối cùng của họ trong
việc bỏ phiếu. Do số lượng của các tổ chức chính trị trên lá phiếu, Ủy ban bầu
cử độc lập của Iraq (IEC I) đã phải mua hòm phiếu thiết kế đặc biệt để phù hợp
với phiếu cực lớn. Kiểm phiếu là một quá trình chậm chạp và tẻ nhạt. Kết quả
là, phải mất gần một tháng cho tất cả các phiếu bầu được kiểm đếm và để cho
IECI công bố kết quả chính thức. Các thiết kế của hệ thống nâng cao tính toàn
diện bầu cử nhưng có chi phí đắt đỏ để đổi lại sự dễ dàng trong việc bỏ phiếu
và kiểm phiếu kịp thời - một ví dụ cho thấy những đặc điểm mong muốn của hệ thống
bầu cử đôi khi mẫu thuẫn với nhau. Thiết kế hệ thống bầu cử cuối cùng liên quan
đến một loạt các lựa chọn: nhà thiết kế phải quyết định chất lượng mong muốn của
hệ thống là điều tối quan trọng, sau đó mới đến những đặc điểm khác.
5) Tính bền vững lâu dài. Tính bền vững lâu dài
của quá trình bầu cử cần phải được xem xét, đặc biệt là khi đang xem xét một hệ
thống bầu cử tương đối phức tạp. Khi một cuộc bầu cử dân chủ lần đầu tiên được
tổ chức với sự hiện diện chuyển tiếp quốc tế, hoặc với sự hỗ trợ kỹ thuật và
kinh phí lớn từ quốc tế, hầu như bất kỳ điều gì đều có thể được thực hiện được.
Tại cuộc bầu cử thứ hai hoặc thứ ba, khi các nguồn lực bên ngoài không còn được
đưa vào một cách tự do, việc tổ chức một cuộc bầu cử bền vững phụ thuộc vào nguồn
lực tài chính và nguồn nhân lực của quốc gia, cả hai đều có thể bị hạn chế và phải
phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khác. Nếu hệ thống được thiết kế quá đơn giản
thì có thể bỏ qua cách tiếp cận tiềm năng mang tính xây dựng để xây dựng nhà nước,
hệ thống quá phức tạp có thể dẫn đến kém hiệu quả trong dài hạn.
Tuyên bố năm 1948 về Nhân quyền công nhận quyền bầu cử là một quyền cơ bản
của con người. Hệ thống bầu cử cung cấp khuôn khổ nhằm đảm bảo người dân có quyền
có tiếng nói trong cách mà họ bị điều chỉnh. Các quốc gia cần phải xem xét các
yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử và lôi
kéo các thành phần liên quan tham gia vào các cuộc thảo luận để tăng khả năng
chấp nhận của các cử tri liên quan đến tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Tiêu chí
lựa chọn có thể bao gồm việc xây dựng các chính phủ ổn định và hiệu quả; tạo điều
kiện cho phe đối lập và giám sát có thể phát triển hiệu quả; hỗ trợ trách nhiệm
giải trình của chính phủ và các cá nhận được bầu đối với các hoạt động của họ;
phát triển các đảng chính trị sôi động; và cung cấp các khích lệ để giảm thiểu
xung đột. Cùng với các mục tiêu thiết kế khác như tăng cường tổ chức xã hội và
khuyến khích tự do báo chí, các sự lựa chọn là nền tảng cho việc đặt nền móng
cho một nền văn hóa dân chủ.
Hệ thống bầu cử được thiết kế không hiệu quả có thể làm suy yếu việc quản
trị dân chủ, trong khi đó hệ thống bầu cử được thiết kế tốt có thể giúp thiết lập
các hệ thống khuyến khích sự tham gia của số đông và đảm bảo sự thành công lâu
dài của nền dân chủ. Như cựu Tổng thống Philippines Fidel Ramos đã từng nói,
"Chính phủ có thể đến và đi, nhưng người dân thì vẫn còn. Uy nghiêm của
quyền lực nhân dân là thứ mà chúng tôi đề cao khi chúng ta xây dựng hệ thống bầu
cử tự do".
CHÚ THÍCH
(1) Andrew Reynolds, Ben Reilly, và Andrew Ellis,
Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế Mới (Stockholm: IDEA, 2005), có sẵn
trực tuyến tại www.idea.int.
(2) Để biết thêm thông tin về sự thay đổi hệ thống
bầu cử ở Iraq, xem chương của Adeed Dawisha và Larry Diamond ở trang 224-38 của
khối này.
(3) Để biết thêm thông tin về hệ thống SNTV của
Afghanistan, xem chương Andrew Reynolds ở trang 210-23 của khối này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét