Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

[Dịch xong] Chương 2: Thông số Toàn cầu

MỘT THÔNG SỐ CHUNG TOÀN CẦU
Richard W. Soudriette và Andrew Ellis

Richard W. Soudriette là Chủ tịch của IFES (được thành lập với tên gọi Quỹ Quốc tế về Hệ thống bầu cử) từ năm 1988. Là tác giả của rất nhiều bài báo, ông hiện đang đồng tác giả của một cuốn sách về tầm quan trọng củ quản lý bầu cử trong việc thúc đẩy dân chủ. Andrew Ellis, người đứng đầu Nhóm Quy trình bầu cử tại IDEA Quốc tế ở Stockholm, là đồng tác giả của cuốn Thiết kế Hệ thống Bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới. Ông đã từng làm việc cho Viện Dân chủ Quốc gia và Ủy ban châu Âu. Bài tiểu luận này ban đầu xuất hiện trong ấn bản tháng Tư năm 2006 của Tạp chí Dân chủ.

Ngày nay, phòng bầu cử đã trở thành công cụ được chấp nhận toàn cầu trong việc thay đổi chính trị. Năm 1974, chỉ có 39 nền dân chủ thông qua bầu cử - tức là, các nước nơi mà các cuộc bầu cử quốc gia đa đảng diễn ra một cách thường xuyên. Đến năm 2006, đã có ít nhất 120 quốc gia có thể được coi là nền dân chủ bầu cử ở dạng này hay dạng khác.

Thiết kế một hệ thống bầu cử là một bước tách biệt và cơ bản trong việc xây dựng một nền dân chủ bền vững. Khi suy nghĩ về việc thiết kế một hệ thống bầu cử, bắt buộc phải xem xét đến truyền thống và đặc trưng của quốc gia về lịch sử, văn hóa, và xã hội học của quốc gia đó. Một hệ thống hoạt động tốt trong một nước ở một thời điểm nào đó thì có thể sẽ không hoạt động hiệu quả ở một nước khác hoặc thậm chí ở cùng đất nước đó nhưng ở một thời điểm khác. Các nước đang phát triển kế thừa mô hình bầu cử của nước đế quốc của họ, mà đôi khi là không có sự phản biện, có thể không có hệ thống bầu cử đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của họ.

Bầu cử là không phải là một yếu tố của quá trình dân chủ có thể được xem xét một cách độc lập. Hiệu quả của hệ thống bầu cử có liên quan với các hệ thống đảng chính trị, việc phát triển hiến pháp, các cơ quan hành pháp, và các vấn đề về thể chế, tiêu chuẩn khung khác. Sự thành công của bất kỳ hệ thống nào đều đòi hỏi sự đồng thuận hợp pháp bởi chính người dân của quốc gia đó. Thực tế trên thế giới có các hệ thống chính trị vô cùng đa dạng được áp dụng, và việc phân loại chúng thông qua những lợi thế và bất lợi của từng hệ thống không phải là một công việc dễ dàng. Một hướng dẫn rất hữu ích cho hệ thống bầu cử trên thế giới là cuốn Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới 1, ở đó chúng ta rút ra những điều sau đây.

Thế giới của các Hệ thống Bầu cử

Như được chỉ ra ở Bảng 1 trong các trang sau đây, các hệ thống bầu cử được sử dụng để lựa chọn các nhà lập pháp quốc gia rất phong phú và đa dạng. Trong hơn nửa thế kỷ qua, các học giả nổi tiếng như Maurice Duverger, Giovanni Sartori, Arend Lijphart, Donald Horowitz, Andrew Reynolds, và Ben-Jamin Reilly đã vật lộn với chủ đề hệ thống bầu cử và tác động của chúng tới nền dân chủ. Dựa trên thành quả nghiên cứu của họ và của những người khác, chúng ta có thể phân loại các hệ thống bầu cử thành bốn nhóm chính.

Đa nguyên /đa số. Các ứng cử viên thắng cử trên cơ sở đa số phiếu bầu, thường ở những khu vực riêng biệt*single-member districts (trong đó chỉ được có một đại diện duy nhất trong cơ quan lập pháp). Có năm loại chủ yếu trong nhóm này: First Past the Post* (FPTP), Hệ thống Hai vòng (TRS), Bầu thay thế (AV), Bầu chặn (BV), và Bầu Chặn Đảng* (PBV). FPTP là loại được sử dụng rộng rãi nhất trong nhóm này, tiếp theo là TRS. Hầu như tất cả các nước lựa chọn tổng thống thông qua bầu cử công khai trực tiếp đều sử dụng FPTP hoặc TRS cho mục đích bầu cử. Tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn trong các hệ thống bầu cử được các quốc gia sử dụng để bầu ra các nhà lập pháp.

Trong hệ thống FPTP, được áp dụng các khu vực riêng biệt*, người chiến thắng là ứng cử viên nhận được nhiều phiếu hơn bất cứ ai khác, ngay cả khi họ chưa nhận được đa số phiếu bầu. Hệ thống hai vòng, như tên gọi của nó, đòi hỏi phải có một vòng bỏ phiếu thứ hai nếu không có ứng cử viên nào trong vòng bỏ phiếu đầu tiên giành một tỷ lệ phần trăm chiến thắng nhất định, thường là một chiến thắng tuyệt đối (50 phần trăm + 1 phiếu). Tùy thuộc vào loại TRS, hai hoặc nhiều hơn các ứng cử viên dẫn đầu ở vòng đầu tiên có thể tiếp tục tranh cử ở vòng thứ hai; nếu có nhiều hơn hai ứng cử viên được phép vào vòng thứ hai, người chiến thắng là ứng cử viên có số phiếu cao nhất, thậm chí nếu chưa đạt một chiến thắng tuyệt đối.

Hệ thống AV, thường được áp dụng ở các khu vực riêng biệt*, là một hệ thống bầu cử "ưu tiên" trong đó cử tri xếp hạng các ứng cử viên theo thứ tự tùy theo ưu tiên của họ. Một ứng cử viên chiến thắng tuyệt đối vị trí ưu tiền đầu tiên sẽ giành được ghế; nếu không có ứng cử viên giành được đa số tuyệt đối ưu tiên đầu tiên, thì các ứng cử viên nhận số lượng ít nhất phiếu ưu tiên đầu tiên sẽ bị loại bỏ, và lá phiếu của họ được phân bố đều cho các ứng cử viên còn lại cho đến khi đạt được một chiến thắng tuyệt đối.


BẢNG 1— HỆ THỐNG BẦU CỬ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

Afghanistan

Khác (SNTV)

TRS

Equatorial Guinea

PR (List)

FPTP

Albania

Hỗn hợp (MMP)


Eritrea

T

T

Algeria

PR (List)

TRS

Estonia

PR (List)


Andorra

Hỗn hợp (PS)


Ethiopia

P/M (FPTP)


Angola

PR (List)

TRS

Fiji

P/M (AV)


Antigua & Barbuda

P/M (FPTP)


Phần Lan

PR (List)

TRS

Argentina

PR (List)

TRS

Pháp

P/M (TRS)

TRS

Armenia

Hỗn hợp (PS)

TRS

Gabon

P/M (TRS)

TRS

Australia (Úc)

P/M (AV)


The Gambia

P/M (FPTP)

TRS


PR (List)

TRS

Georgia

Hỗn hợp (PS)

TRS

Azerbaijan

Hỗn hợp (PS)

TRS

Đức

Hỗn hợp (MMP)


Bahamas

P/M (FPTP)


Ghana

P/M (FPTP)

TRS

Bahrain

P/M (TRS)


Hi Lạp

PR (List)


Bangladesh

P/M (FPTP)


Grenada

P/M (FPTP)


Barbados

P/M (FPTP)


Guatemala

PR (List)

TRS

Belarus

P/M (TRS)

TRS

Guinea

Hỗn hợp (PS)

TRS

Bỉ

PR (List)


Guinea-Bissau

PR (List)

TRS

Belize

P/M (FPTP)


Guyana

PR (List)

FPTP

Benin

PR (List)

TRS

Haiti

P/M (TRS)

TRS

Bhutan

N


Honduras

PR (List)

FPTP

Bolivia

Hỗn hợp (MMP)

TRS

Hungary

Hỗn hợp (MMP)


Bosnia-Herzegovina

PR (List)

FPTP

Iceland

PR (List)

FPTP

Botswana

P/M (FPTP)


India

P/M (FPTP)


Brazil

PR (List)

TRS

Indonesia

PR (List)

TRS

Brunei

N


Iran

P/M (TRS)

TRS

Bulgaria

PR (List)

TRS

Iraq

PR (List)


Burkina Faso

PR (List)

TRS

Ireland

PR (STV)

AV

Burma

P/M (FPTP)


Israel

PR (List)


Burundi

PR (List)


Italy (Ý)

Hỗn hợp (MMP)


Campuchia

PR (List)


Jamaica

P/M (FPTP)


Cameroon

P/M & PR

FPTP

Nhật Bản

Hỗn hợp (PS)


Canada

P/M (FPTP)


Jordan

Khác (SNTV)


Cape Verde

PR (List)

TRS

Kazakhstan

Hỗn hợp (PS)

TRS

Cộng hòa Trung Phi

P/M (TRS)

TRS

Kenya

P/M (FPTP)

TRS

Chad

P/M & PR

TRS

Kiribati

P/M (TRS)

FPTP

Chile

PR (List)

TRS

Kuwait

P/M (BV)


Trung Quốc

N


Kyrgyzstan

P/M (TRS)

TRS

Colombia

PR(List)

TRS

Lào

P/M (BV)


Comoros

P/M(TRS)

FPTP

Latvia

PR (List)


Congo (Brazzaville)

P/M (TRS)

FPTP

Li băng

P/M (BV)


Congo (Kinshasa)

T

T

Lesotho

Hỗn hợp (MMP)


Costa Rica

PR (List)

TRS

Liberia

P/M (FPTP)

TRS

Côte d’Ivoire

P/M

TRS

Libya

N


Croatia

PR (List)

TRS

Liechtenstein

PR (List)


Cuba

P/M(TRS)


Lithuania

Hỗn hợp (PS)

TRS

Síp

PR (List)

TRS

Luxembourg

PR (List)


Cộng hòa Séc

PR (List)


Macedonia

PR (List)

TRS

Đan Mạch

PR (List)


Madagascar

P/M & PR

TRS

Djibouti

P/M (PBV)

TRS

Malawi

P/M (FPTP)

FPTP

Dominica

P/M(FPTP)


Malaysia

P/M (FPTP)


Công hòa Dominica

PR (List)

TRS

Maldives

P/M (BV)


Đông Timor

Hỗn hợp (PS)

TRS

Mali

P/M (TRS)

TRS

Ecuador

PR (List)

TRS

Malta

PR (STV)


Ai Cập

P/M (TRS)


Đảo Marshall

P/M


El Salvador

PR (List)

TRS

Mauritania

P/M (TRS)

TRS

 


TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

TÊN NƯỚC

CƠ QUAN LẬP PHÁP

TỔNG THỐNG

Mauritius

P/M (BV)


Thụy Điển

PR (List)


Mexico

Hỗn hợp (MMP)

FPTP

Thụy Sỹ

PR (List)


Micronesia

P/M (FPTP)


Syria

P/M (BV)


Moldova

PR (List)


Đài Loan

Hỗn hợp (PS)

FPTP

Monaco

Hỗn hợp (PS)


Tajikistan

Hỗn hợp (PS)

TRS

Mongolia

P/M (TRS)

TRS

Tanzania

P/M (FPTP)

TRS

Morocco

PR (List)


Thái Lan

Hỗn hợp (PS)


Mozambique

PR (List)

TRS

Togo

P/M (TRS)

TRS

Namibia

PR (List)

TRS

Tonga

P/M (BV)


Nauru

Khác (MBC)


Trinidad và Tobago

P/M (FPTP)


Nepal

P/M (FPTP)


Tunisia

Hỗn hợp (PS)

FPTP

Hà Lan

PR (List)


Thổ Nhĩ Kỳ

PR (List)


New Zealand

Hỗn hợp (MMP)


Turkmenistan

P/M (TRS)

TRS

Nicaragua

PR (List)

TRS

Tuvalu

P/M (BV)


Niger

P/M & PR

TRS

Uganda

P/M (FPTP)

TRS

Nigeria

P/M (FPTP)

TRS

Ukraine

Hỗn hợp (PS)

TRS

Bắc Triều Tiên

P/M (TRS)


Liên bang cộng hòa Ả Rập

N


Na Uy

PR (List)


Vương quốc Anh

P/M (FPTP)


Oman

P/M (FPTP)


Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

P/M (FPTP)

FPTP

Pakistan

Hỗn hợp (PS)


Uruguay

PR (List)

TRS

Palau

P/M (FPTP)

TRS

Uzbekistan

P/M (TRS)

TRS

Panama

P/M & PR

FPTP

Vanuatu

Other (SNTV)


Papua New Guinea

P/M (AV)


Venezuela

Hỗn hợp (MMP)

FPTP

Paraguay

PR (List)

FPTP

Việt Nam

P/M (TRS)


Peru

PR (List)

TRS

Yemen

P/M (FPTP)

TRS

Philippines

Hỗn hợp (PS)

FPTP

Zambia

P/M (FPTP)

FPTP

Ba Lan

PR (List)

TRS

Zimbabwe

P/M (FPTP)

TRS

Bồ Đào Nha

PR (List)

TRS

Qatar

N


P/M–Đa nguyên/đa số

Romania

PR (List)

TRS

Nga

Hỗn hợp (PS)

TRS

FPTP–First Past the Post

Rwanda

PR (List)

FPTP

TRS–Hệ thống hai vòng

St. Kitts & Nevis

P/M (FPTP)


AV–Bầu cử thay thế

St. Lucia

P/M (FPTP)


BV–Bầu cử chặn

St. Vincent

P/M (FPTP)


PBV–Bầu cử chặn đảng

Samoa

P/M


SV–Bầu bổ sung

San Marino

PR (List)


PR–Đại diện tỷ lệ

S~ao Tomé & Príncipe PR (List)

TRS

List–Danh sách đại diện tỷ lệ

Ả Rập Saudi

N


STV–Đơn phương chuyển nhượng phiếu

Senegal

Hỗn hợp (PS)

TRS

Hỗn hợp

Serbia và Montenegro

T

T

PS–Hệ thống song song

Seychelles

Hỗn hợp (PS)

TRS

MMP–Hỗn hợp tỷ lệ thành viên

Sierra Leone

PR (List)

TRS

Khác

Singapore

P/M

FPTP

SNTV– Bầu không đơn phương chuyển nhượng phiếu

Slovakia

PR (List)

TRS

LV–Bầu giới hạn

Slovenia

PR (List)

TRS

MBC–Modified Borda Count*

Đảo Solomon

P/M (FPTP)


N–Không bầu cử  trực tiếp

Somalia

T

T

T–Đất nước trong thời kỳ quá độ (hệ thống bầu cử mới chưa được quyết định tại thời điểm thiết lập)

Nam Phi

PR (List)


Hàn Quốc

Hỗn hợp (PS)

FPTP

Tây Ban Nha

PR (List)


Sri Lanka

PR (List)

SV

Bảng này là bản sửa đổi của một bảng quy mô rộng hơn xuất hiện trong cuốn

Sudan

P/M (FPTP)

TRS

Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới (2005)

Suriname

PR (List)


Swaziland

P/M (FPTP)


 

Trong hệ thống BV, được sử dụng ở các khu vực đa thành viên*multimember districts (có nhiều hơn một thành viên đại diện trong cơ quan lập pháp), các cử tri được cung cấp số phiếu bằng với số ghế được bầu ở khu vực của họ, và các ứng cử viên với tổng số phiếu bầu cao nhất giành chiến thắng. Trong hệ thống PBV, cũng được sử dụng trong các khu vực đa thành viên*, cử tri bỏ phiếu cho đảng hơn là bầu cho ứng viên, và đảng nào thu hút được nhiều phiếu bầu nhất sẽ chiến thắng tất cả các ghế. Hai hệ thống này có thể được coi là “hypermajoritarian*”, trong đó họ có xu hướng chuyển dịch lợi thế nhỏ về phiếu bầu thành lợi thế lớn hơn về ghế.

Các hệ thống đa nguyên / đa số được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Cùng với Vương quốc Anh và nhiều cựu thuộc địa của nó, bao gồm cả Ấn Độ và Canada, Hoa Kỳ từ lâu đã chấp nhận hệ thống FPTP. Mặt khác, TRS được sử dụng ở Pháp và nhiều nước có lịch sử chịu ảnh hưởng của nước Pháp. AV được sử dụng ở cấp độ quốc gia tại Úc, Fiji và Papua New Guinea. BV được sử dụng ở 11 quốc gia, vùng lãnh thổ trải rộng trên toàn thế giới, chủ yếu ở các đơn vị nhỏ hơn, nơi mà các đảng được đánh giá là yếu. PBV được sử dụng ở Cameroon, Chad, Djibouti, và Singapore.

Đại diện tỷ lệ (PR)*. Mục tiêu chính của PR là để chuyển phần phiếu bầu mà một đảng nhận được thành một tỷ lệ tương ứng của các ghế trong cơ quan lập pháp. Nó chỉ được sử dụng tại các khu vực đa thành viên*. Có hai loại chính của hệ thống PR: List PR và Bầu cử đơn phương chuyển giao (STV)*. List PR* phổ biến trên thế giới hơn so với STV.

Với hệ thống List PR, các ghế được phân bổ cho các đảng chính trị trên cơ sở phiếu bầu cho danh sách các đảng, với tỷ lệ phần trăm số phiếu tại các thùng phiếu được làm tròn thành tỷ lệ ghế trong cơ quan lập pháp. List PR được đưa vào thực hiện theo những cách khác nhau. Trong các hệ thống "danh sách đóng", cử tri chỉ có thể bỏ phiếu cho các đảng nằm trong danh sách, và không thể hiện bất kỳ ưu tiên nào cho các ứng cử viên cá nhân. Trong các hệ thống "danh sách mở", cử tri có thể thể hiện sự ưu tiên cho các ứng viên trong danh sách đảng, trong khi hệ thống "danh sách tự do", họ thậm chí có thể thể hiện sự ưu tiên cho một ứng cử viên ngoài danh sách đảng mà họ đã chọn.

Với hệ thống STV, cử tri xếp hạng các ứng cử viên. Hạn ngạch số phiếu cần thiết để chiến thắng được xác định, và bất kỳ ứng cử viên nào nhận được ít nhất bằng số phiếu đó ngay lập tức giành một ghế. Ứng cử viên kém thành công nhất ngay sau đó bị loại và số phiếu của họ được phân phối lại. Phiếu bầu từ các ứng cử viên thành công vượt trên hạn ngạch cũng được phân phối lại. Việc phân phối lại tiếp tục cho đến khi các ghế còn lại được lấp đầy.

List PR*, được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu, Mỹ Latinh, và châu Phi, được sử dụng bởi hơn một phần ba các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhiều hơn bất kỳ hệ thống nào khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng FPTP được sử dụng bởi gần gấp đôi dân số thế giới so với List PR (43,5% dân số của những nước có bầu cử trực tiếp, so với 23,9%), chủ yếu vì FPTP được sử dụng trong các nước lớn như Ấn Độ và Hoa Kỳ. Hệ thống STV, mặc dù phổ biến với các nhà khoa học chính trị, được sử dụng ở cấp quốc gia duy nhất ở Cộng hòa Ireland và Malta.

Hỗn hợp*. Với hệ thống hỗn hợp, có hai nhóm thành viên được bầu: một nhóm được bầu theo hệ thống đa nguyên / đa số, nhóm còn lại được bầu theo hệ thống PR. Các cuộc bầu cử cho hai nhóm thành viên có thể được liên kết để tạo ra một kết quả tỷ lệ tương đối tỉ lệ (Hỗn hợp thành viên tỷ lệ*Mixed-Member Proportional – MMP) hoặc được tiến hành độc lập với nhau (Hệ thống song song*Parallel System – PS)


BẢNG 2: NHỮNG THAY ĐỔI TRONG HỆ THỐNG BẦU CỬ (1993-2004)

Hệ thống mới
 

Hệ thống cũ

Đa nguyên

Tổng

/ đa số

PR

Hỗn hợp

Khác

(Hệ thống cũ)

Đa nguyên/đa số

Bermuda

Iraq

Lesotho

Afghanistan

19

Fiji

Moldova

Monaco

Jordan

Mongolia

Rwanda

New Zealand

Montserrat

Sierra Leone

Philippines

Papua NG

Nam Phi

Nga

Thái Lan

Ukraine

PR

Madagascar

Bolivia

4

Ý

Venezuela

Hỗn hợp

Croatia

Mexico

3

Macedonia

Khác

Nhật Bản

1

Tổng (hệ thống mới)

6

7

12

2

27

 

Hệ thống MMP đầu tiên phát triển ở Đức trong thời kỳ hậu Thế chiến thứ II, hiện nay cũng được sử dụng ở Albania, Bolivia, Hungary, Ý, Lesotho, Mexico, New Zealand, và Venezuela. Hệ thống song song* được sử dụng ở 21 quốc gia trên toàn cầu, bao gồm cả Liên bang Nga và Nhật Bản.

Khác. Một số hệ thống khác, chẳng hạn như Single Non-Transferable Vote* (SNTV), Phiếu bầu giới hạn*Limited Vote (LV), và Borda Count* (BC), không thực sự phù hợp với bất kỳ loại này. Trong việc chuyển phiếu bầu thành ghế, các hệ thống này có xu hướng chịu tác động đâu đó từ các hệ thống đa nguyên / đa số và PR. SNTV đã được sử dụng cho các cuộc bầu cử quốc hội ở Afghanistan vào năm 2005, mặc dù nó là hệ thống hứng chịu rất nhiều chỉ trích. LV được sử dụng bởi Tây Ban Nha để bầu thượng viện, trong khi đó chỉ Nauru sử dụng BC.

Những xu hướng thay đổi hệ thống bầu cử

So sánh những thay đổi giữa năm 1993 và 2004 trong tổng số 213 quốc gia và vùng lãnh thổ, cuốn “Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế mới” chỉ ra 27 sự thay đổi trong hệ thống bầu cử (không bao gồm Kyrgyzstan đã thay đổi hệ thống bầu cử và sau đó đổi lại). Chúng được tóm tắt trong Bảng 2 ở trên.

Những dữ liệu này cho thấy xu hướng chuyển từ hệ thống đa nguyên / đa số sang hệ thống PR. Sự thay đổi phổ biến nhất là từ các hệ thống đa nguyên / đa số sang các hệ thống hỗn hợp (7 quốc gia).

Bảng 2 đánh giá không đầy đủ mức độ thay đổi hệ thống bầu cử trên thế giới. Ngoài 13% các quốc gia và vùng lãnh thổ đã tiến hành thay đổi kiểu hệ thống của họ, nhiều quốc gia khác đã thực hiện những thay đổi trong hệ thống hiện tại của họ, bằng cách thay đổi số lượng thành viên được bầu từ mỗi khu vực bầu cử, bằng cách đưa ra hoặc thay đổi ngưỡng mức bỏ phiếu tối thiểu mà các đảng hoặc các ứng cử viên phải đạt được để được phép đại diện, hoặc bằng cách đưa ra hoặc hạn chế sự lựa chọn của cử tri giữa các ứng cử viên trong danh sách các đảng. Mặc dù những thay đổi trên có thể mang tính kỹ thuật về bản chất, chúng có thể có những ảnh hưởng sâu sắc đến những người trúng cử và qua đó ảnh hưởng đến cách hệ thống chính trị hoạt động.

Trong hầu hết các trường hợp mà các hệ thống bản thân nó đã thay đổi, một cuộc khủng hoảng đại diện lớn là cần thiết để kích hoạt sự thay đổi. Ở Papua New Guinea, hơn một nửa những người chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2002 chỉ cần ít hơn 20% số phiếu, do đó không thể tránh khỏi đặt ra câu hỏi về tính hợp pháp của những người trúng cử. Theo đó việc chuyển từ hệ thống FPTP sang AV ở Papua New Guinea trong năm 2003 là điều không đáng ngạc nhiên. Các cuộc khủng hoảng cũng có thể xảy ra trong các nền dân chủ đã được thiết lập. Trong hai cuộc tổng tuyển cử liên tiếp tại New Zealand, các đảng có nhiều phiếu bầu nhất lại bị phản đối; cuối cùng, sau hai lần trưng cầu dân ý được tổ chức vào những năm 1990, hệ thống đã được thay đổi từ FPTP sang MMP. Ở Ý và Nhật Bản, sự mất niềm tin vào hệ thống chính trị gây ra bởi các vụ bê bối tham nhũng nghiêm trọng cũng dẫn đến những thay đổi trong hệ thống bầu cử; Ý thay đổi từ List PR sang MMP vào năm 1993, và Nhật Bản từ SNTV sang hệ thống song song* vào năm 1994.

Thay đổi hệ thống cũng phát sinh trong quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ-trong khi quá trình chuyển đổi là hòa bình và thúc đẩy bởi trong nước, và gần như luôn luôn khi quá trình chuyển đổi theo sau một cuộc xung đột bạo lực và nó được thúc đầy bởi quốc tế. Iraq là một ví dụ điển hình gần đây của điều này. Hệ thống bầu cử quốc hội hai vòng, được sử dụng trong suốt thời gian của chế độ quân chủ và là khuôn khổ cho các cuộc bầu cử giả của thời đại Saddam Hussein, được thay thế bởi một hệ thống List PR* vào năm 2004-một sự thay đổi do Liên Hiệp Quốc đề xuất và chấp nhận bởi chính phủ lâm thời Iraq. 2

Ở Mỹ Latinh, có một xu hướng hướng về MMP, với Bolivia, Venezuela và Mexico đều chuyển động theo hướng này. Như một hậu quả của việc Liên Xô tan rã, nhiều nước thuộc Liên Xô cũ, như Estonia, Bulgaria, Ba Lan, Moldova và Romania, chuyển sang hệ thống List-PR*. Các quốc gia khác, bao gồm cả Hungary, Litva, Nga và Ukraina, đã áp dụng hệ thống hỗn hợp*, trong đó ít nhất một nửa số ghế trong quốc hội của họ được bầu bởi FPTP và phần còn lại bởi PR.

Điều gì có thể giải thích xu hướng chung này? Hệ thống PR có thể đặc biệt có giá trị ở những quốc gia nơi cần thiết phải có đa dạng về dân tộc, kinh tế, xã hội, hay các quốc gia tìm kiếm sự bảo đảm rằng không chỉ các đảng với sự hỗ trợ đáng kể mà cả các nhóm tương đối nhỏ cũng được đại diện trong hội đồng bầu ra. Nhìn chung, ngày càng nhiều phụ nữ và người dân tộc thiểu số được bầu vào cơ quan lập pháp thuộc hệ thống bầu cử theo tỷ lệ. Nền dân chủ mạnh mẽ đã lớn lên ở nhiều nước châu Âu, những nước đã chọn sử dụng hệ thống List-PR, bao gồm các nước Bắc Âu và Hà Lan. Năm 1922, Cộng hòa Ireland thông qua STV, đã góp phần tạo ra một trong các nền dân chủ mạnh nhất và sôi động nhất tại châu Âu.

Có một số trường hợp ngoại lệ đáng chú ý liên quan đến xu hướng thay đổi chung này; cụ thể là Afghanistan đã đi ngược xu hướng này. Theo định nghĩa, sự cân xứng yêu cầu các đảng hoặc các nhóm xác định có thể được đại diện theo tỷ lệ tương ứng. Ở Afghanistan, những lo ngại về sự tham gia của các nhóm chính trị liên quan đến các lãnh chúa, kết hợp với nghĩa tiêu cực của các khái niệm về đảng (còn lại từ những năm tháng cộng sản), đã dẫn đến cuộc bầu cử tổng thống được tiến hành trên cơ sở không đảng phái. Tất cả các ứng cử viên tổng thống chạy đua với tư cách là các ứng cử viên độc lập trong một hệ thống hai vòng. Trong thời gian chuẩn bị cho bầu cử năm 2005 của quốc hội cho 249 thành viên của Wolesi Jirga (hạ viện bầu trực tiếp của cơ quan lập pháp Af-Ghan), thảo luận rộng rãi đã được tổ chức để quyết định hệ thống bầu cử được sử dụng. Cuối cùng, hệ thống SNTV đã được lựa chọn. Tổng thống được bầu Hamid Karzai đã cam kết duy trì phi đảng phái trong hệ thống. 68 trong số 249 ghế được dành riêng cho phụ nữ. Không có đảng phái nào được cho phép, và tất cả các ứng cử viên tranh cử độc lập.3

Rất khó để đạt được một sự thay đổi trên diện rộng về hệ thống bầu cử. Hệ thống bầu cử của hầu hết các nước được điều chỉnh bởi pháp luật thông thường, và do đó hệ thống có thể được thay đổi trong các cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, một số quốc gia bằng cách nào đó đã đưa các yếu tố của hệ thống bầu cử vào hiến pháp của họ, và hiến pháp thường khó thay đổi hơn so với luật bình thường. Mặc dù vậy, cho dù hệ thống bầu cử được điều khiển bởi hiến pháp hay luật pháp thông thường, ý chí chính trị của một phần giới tinh hoa là cần thiết để thay đổi hệ thống bầu cử, và giới tinh hoa chính trị sẽ thường không nghiêm túc xem xét thay đổi đáng kể hệ thống trừ khi họ nhận thấy một số lợi ích cho bản thân họ.

Dù là những người hoạt động chính trị đích thực nhận ra nhu cầu cải cách hệ thống bầu cử, một vấn đề khác lại nảy sinh trong việc chọn hệ thống bầu cử tốt nhất thay thế hệ thống cũ. Ở Mexico, sự ra đời của hệ thống song song* năm 1944 đã tạo ra kết quả kém tương xứng tỷ lệ nhất mà nước này từng có với hệ thống hỗn hợp*mixed system (hệ thống sau đó lại được thay đổi lại, thành MMP). Thêm nữa, vì các hệ thống bầu cử quá phức tạp, những lợi ích dài hạn từ hệ thống bầu cử là khó để có thể đánh giá.

Ảnh hưởng của thay đổi hệ thống bầu cử

Triển khai thực hiện một hệ thống bầu cử mới là một nhiệm vụ phức tạp. Trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử, cần xem xét đến tác động của nó đối với việc quản lý các cuộc bầu cử. Một cuộc bầu cử sẽ thực sự được thực hiện như thế nào dưới hệ thống bầu cử trong một quốc gia nhất định, và những tác động có thể có là gì?

Nhiều yếu tố phải được cân nhắc khi xem xét lựa chọn hệ thống bầu cử và làm thế nào một hệ thống có thể được quản lý một cách hiệu quả trong một quốc gia. Năm yếu tố quan trọng bao gồm: 1) ranh giới bầu cử; 2) trình độ cử tri; 3) hiện đại hóa thiết bị bầu cử; 4) phiếu bầu và kiểm phiếu; và 5) tính bền vững lâu dài.

1)      Ranh giới bầu cử. Quá trình xác định phạm vi khu vực ràng buộc là một nhiệm vụ chính trị cơ bản: Tất cả các ranh giới tạo ra người chiến thắng và kẻ thua cuộc trong chính trị. Đặc biệt trong các hệ thống đa nguyên / đa số, việc thiết kế khu vực là một nhiệm vụ đầy thách thức và khó khăn. Nhiều quốc gia sử dụng FPTP, như Canada và Anh, được yêu cầu phải đưa ra ranh giới cho các khu vực single-member* trên cơ sở của quá trình phân định biên giới thường xuyên. Nếu công việc này phải được thực hiện trước mỗi cuộc bầu cử quốc hội, thì đó là một quá trình tốn tiền bạc và thời gian. Nếu quá trình này được thực hiện ít thường xuyên hơn, có thể dẫn đến một sực mất cân đối đáng kể trong kích thước của các khu vực cử tri. Ví dụ, tại Hoa Kỳ,  ranh giới các bang của Quốc hội được xác định bởi mỗi cơ quan trong số năm mươi cơ quan lập pháp nhà nước sử dụng dữ liệu được tạo ra từ các điều tra dân số quốc gia mười năm một lần. Các bản vẽ ranh giới luôn luôn không ổn định và là vấn đề mang tính chính trị.

Bất kỳ quá trình xác định ranh giới nào cũng đều đòi hỏi thời gian và tư vấn đáng kể nếu nó muốn được coi là công bằng trong quá trình bầu cử. Điều này có nghĩa là rất hiếm khi xảy ra việc đưa ra một khu vực bầu cử mới trong quá trình chuyển đổi dân chủ, khi động lực chính trị và sự hưng phấn quá độ tạo áp lực gần như không thể cưỡng lại cho cuộc bầu cử diễn ra trong một thời gian nhanh. Thêm nữa, gần như tất cả những người tham gia chính trị trong bất kỳ cuộc đàm phán về một khuôn khổ thể chế mới biết rằng sự nhượng bộ sẽ càng có giá trị khi được thực hiện càng muộn; do đó, gần như không thể tránh khỏi rằng thời gian sẵn sàng cho quá trình vạch ra ranh giới và cho các khía cạnh khác của cuộc bầu cử tổ chức sẽ bị mất đi.

2)      Trình độ cử tri. Trong các nền dân chủ mới thành lập, các nhà lập pháp thường không nắm bắt tốt khái niệm “cử tri của họ”.  Đồng thời, cử tri có thể không hoàn toàn hiểu rằng họ đang bầu ra đại diện thi hành luật để đại diện cho họ và cộng đồng của họ. Ở những nước có mức độ mù chữ cao, như Afghanistan, những khái niệm này có thể đặc biệt khó khăn để truyền đạt nếu không có đầy đủ cử tri và nỗ lực phổ cập giáo dục người dân. Việc giải thích các phương pháp bỏ phiếu ở các nước có trình độ dân trí thấp có thể là một công việc đầy thách thức khi các hệ thống phức tạp hơn được lựa chọn.

3)      Hiện đại hóa trang thiết bị bầu cử. Với xu hướng toàn cầu phát triển theo hướng hiện đại của thiết bị bỏ phiếu, lựa chọn các hệ thống bầu cử là một trong những yếu tố mà có thể ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình bầu cử. Tại Ấn Độ, sự ra đời của máy bỏ phiếu điện tử đã giúp làm cho cuộc bầu cử thành công. Hệ thống FPTP hiện tại của Ấn Độ trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đã làm cho Ủy ban Bầu cử Ấn Độ có thể phát triển một hệ thống điện tử hiệu quả với chi phí thấp; nếu lựa chọn một hệ thống bầu cử khác, việc phát triển một hệ thống bầu cử điện tử thành công sẽ có gặp nhiều khó khăn hơn.

Các cơ quan tổ chức bầu cử tại Cộng hòa Ireland đã chi hàng triệu đô la trong năm 2004 để giới thiệu một hệ thống bầu cử điện tử mới cho các cuộc bầu cử quốc hội. Tuy nhiên, Ireland lại sử dụng hệ thống Single Transferable Vote*, một hệ thống yêu cầu các cử tri thể hiện một loạt các ưu tiên trên phiếu bầu. Ở những phút cuối cùng, quyết định đã được đưa ra nhằm loại bỏ hệ thống bầu cử điện tử do lo ngại rằng hệ thống này không đủ thân thiện với cử tri. Thay vào đó, Ireland quay trở lại lá phiếu giấy truyền thống trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2004.

4)      Phiếu bầu và kiểm phiếu. Việc các quản trị viên tổ chức các cuộc bầu cử thân thiện đối với cử tri là vô cùng cần thiết, mặc dù điều quan trọng là các quản trị viên chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật bầu cử. Các lá phiếu, thiết bị và các thủ tục bỏ phiếu dễ sử dụng có thể giúp tăng cường tính chính trực của quá trình bầu cử trong con mắt của cử tri, cũng như tạo nền tảng tích cực cho tương lai. Một ví dụ về việc hệ thống bầu cử không đáp ứng được các tiêu chí này là ở Fiji. Lá phiếu lập pháp*Legislative ballot cho phép cử tri bỏ phiếu trong một phần của lá phiếu cho một đảng (và lá phiếu của họ có thể được chuyển giao cho các ứng cử viên khác theo thứ tự ưu tiên do đảng đó đưa ra) hoặc trong một phần thứ hai cho các ứng cử viên cá nhân. Nếu cử tri lựa chọn để bỏ phiếu cho các ứng cử viên cá nhân, sự ưu tiên phải được thể hiện cho ít nhất ba phần tư số ứng cử viên trên phiếu bầu. Trong hai cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức cho đến nay trong hệ thống này, hơn 10 phần trăm số phiếu bầu đã không hợp lệ.

Trong cuộc bầu cử Quốc hội Iraq vào tháng 12/2005, tổng cộng 996 đảng và các tổ chức chính trị được thể hiện trên lá phiếu, trình bày tổng cộng 7.655 ứng cử viên. Cử tri đã phải đối mặt với lá phiếu khổng lồ cỡ voi ma mút cũng như phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn cuối cùng của họ trong việc bỏ phiếu. Do số lượng của các tổ chức chính trị trên lá phiếu, Ủy ban bầu cử độc lập của Iraq (IEC I) đã phải mua hòm phiếu thiết kế đặc biệt để phù hợp với phiếu cực lớn. Kiểm phiếu là một quá trình chậm chạp và tẻ nhạt. Kết quả là, phải mất gần một tháng cho tất cả các phiếu bầu được kiểm đếm và để cho IECI công bố kết quả chính thức. Các thiết kế của hệ thống nâng cao tính toàn diện bầu cử nhưng có chi phí đắt đỏ để đổi lại sự dễ dàng trong việc bỏ phiếu và kiểm phiếu kịp thời - một ví dụ cho thấy những đặc điểm mong muốn của hệ thống bầu cử đôi khi mẫu thuẫn với nhau. Thiết kế hệ thống bầu cử cuối cùng liên quan đến một loạt các lựa chọn: nhà thiết kế phải quyết định chất lượng mong muốn của hệ thống là điều tối quan trọng, sau đó mới đến những đặc điểm khác.

5)      Tính bền vững lâu dài. Tính bền vững lâu dài của quá trình bầu cử cần phải được xem xét, đặc biệt là khi đang xem xét một hệ thống bầu cử tương đối phức tạp. Khi một cuộc bầu cử dân chủ lần đầu tiên được tổ chức với sự hiện diện chuyển tiếp quốc tế, hoặc với sự hỗ trợ kỹ thuật và kinh phí lớn từ quốc tế, hầu như bất kỳ điều gì đều có thể được thực hiện được. Tại cuộc bầu cử thứ hai hoặc thứ ba, khi các nguồn lực bên ngoài không còn được đưa vào một cách tự do, việc tổ chức một cuộc bầu cử bền vững phụ thuộc vào nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực của quốc gia, cả hai đều có thể bị hạn chế và phải phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khác. Nếu hệ thống được thiết kế quá đơn giản thì có thể bỏ qua cách tiếp cận tiềm năng mang tính xây dựng để xây dựng nhà nước, hệ thống quá phức tạp có thể dẫn đến kém hiệu quả trong dài hạn.

Tuyên bố năm 1948 về Nhân quyền công nhận quyền bầu cử là một quyền cơ bản của con người. Hệ thống bầu cử cung cấp khuôn khổ nhằm đảm bảo người dân có quyền có tiếng nói trong cách mà họ bị điều chỉnh. Các quốc gia cần phải xem xét các yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội trong việc lựa chọn một hệ thống bầu cử và lôi kéo các thành phần liên quan tham gia vào các cuộc thảo luận để tăng khả năng chấp nhận của các cử tri liên quan đến tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Tiêu chí lựa chọn có thể bao gồm việc xây dựng các chính phủ ổn định và hiệu quả; tạo điều kiện cho phe đối lập và giám sát có thể phát triển hiệu quả; hỗ trợ trách nhiệm giải trình của chính phủ và các cá nhận được bầu đối với các hoạt động của họ; phát triển các đảng chính trị sôi động; và cung cấp các khích lệ để giảm thiểu xung đột. Cùng với các mục tiêu thiết kế khác như tăng cường tổ chức xã hội và khuyến khích tự do báo chí, các sự lựa chọn là nền tảng cho việc đặt nền móng cho một nền văn hóa dân chủ.

Hệ thống bầu cử được thiết kế không hiệu quả có thể làm suy yếu việc quản trị dân chủ, trong khi đó hệ thống bầu cử được thiết kế tốt có thể giúp thiết lập các hệ thống khuyến khích sự tham gia của số đông và đảm bảo sự thành công lâu dài của nền dân chủ. Như cựu Tổng thống Philippines Fidel Ramos đã từng nói, "Chính phủ có thể đến và đi, nhưng người dân thì vẫn còn. Uy nghiêm của quyền lực nhân dân là thứ mà chúng tôi đề cao khi chúng ta xây dựng hệ thống bầu cử tự do".

CHÚ THÍCH

(1)   Andrew Reynolds, Ben Reilly, và Andrew Ellis, Thiết kế hệ thống bầu cử: Sổ tay IDEA Quốc tế Mới (Stockholm: IDEA, 2005), có sẵn trực tuyến tại www.idea.int.
(2)   Để biết thêm thông tin về sự thay đổi hệ thống bầu cử ở Iraq, xem chương của Adeed Dawisha và Larry Diamond ở trang 224-38 của khối này.
(3)   Để biết thêm thông tin về hệ thống SNTV của Afghanistan, xem chương Andrew Reynolds ở trang 210-23 của khối này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

 
Blogger Templates