LẬP HIẾN TẠI NAM PHI
Loạt
phong trào dân chủ diễn ra trên thế giới kể từ cuối những năm 1980 đã làm nổ ra các cuộc tranh luận dai dẳng (thông tin về một số cuộc tranh luận đã được
đưa lên mặt báo) về cách thức tốt nhất mà các nền dân chủ non trẻ có thể thiết lập hiến pháp, qua đó hỗ trợ sự
bình ổn về chính trị. Trong bối cảnh của cuộc tranh luận này về "kỹ thuật lập hiến",
thiết kế hệ thống bầu cử ngày càng được công nhận là một đòn bẩy chủ chốt có thể được sử dụng để thúc đẩy các thỏa hiệp và ổn định chính trị trong những xã hội có sự chia rẽ về sắc tộc.
Đa số các
học giả đều đi tới đồng thuận chung rằng việc lựa chọn hệ thống bầu cử đã gây
tác động cực kỳ mạnh mẽ lên nền chính trị; và mỗi quốc gia với nền dân chủ hóa
non trẻ đều sở hữu các quy định cơ bản khác biệt về sự lựa chọn này. Các nền
dân chủ mới nổi tại Nam Phi là những bằng chứng mạnh mẽ nhất cho thấy một xã hội
bị chia rẽ cần tới hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ (PR - proportional
representation) hơn là hệ thống bầu cử theo đa số, và cần một Nghị Viện hơn là hình thức
tổng thống của chính phủ. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu chỉ có trong tay một hệ
thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ mang tính nghị viện đơn giản - các nền dân chủ
non trẻ sẽ có khả năng phát triển hơn nếu thành lập một kiểu bầu cử đại diện
theo tỷ lệ giúp tối đa hóa các đại diện địa lý của các nghị sĩ, cũng như trách
nhiệm của họ để các cử tri. Mặc dù luật bầu cử thích hợp vẫn chưa đủ đảm bảo sự
ổn định và cai trị hợp lý trong các xã hội bị chia rẽ, nhưng chính pháp luật
thiết lập kém mới là nguyên nhân làm tăng nguy cơ chia rẽ xã hội và khiến các
xung đột từ trước tới nay ngày càng trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết.
Giới học
thuật đương thời thể hiện rõ sự ủng hộ dành cho hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ
lệ, bài bác hệ thống bầu cử theo đa số trong những nhà nước bị chia rẽ sắc tộc.
Theo khẳng định của Arthur Lewis trong Khóa giảng Whidden theo chuyên đề năm
1965 thì, "Thông qua the
Anglo-American system of first-past-the-post là cách thức chắc chắn nhất
góp phần giết chết các ý tưởng dân chủ được nhen nhóm một xã hội đa sắc tộc.” Theo Lewis, thay đổi bất
thường của các cuộc bầu cử đa số sẽ tạo ra các chính phủ phân biệt chủng tộc độc
quyền và các chính phủ giáo xứ theo địa lý này sẽ lợi dụng sự “ủy thác” từ đa số
cử tri để phân biệt đối xử với nhóm thiểu số một cách có hệ thống: “Nếu bạn thuộc
về một nhóm thiểu số trong một nhà nước mới, và được yêu cầu phải chấp nhận nền
dân chủ nghị viện, rất khó để bạn có thể đặt nhiều niềm tin vào hệ thống nếu bạn
chỉ giành được 30% số phiếu và 20% số ghế, hoặc không giành được ghế nào. Nếu
nhóm thiểu số được chấp nhận tại Nghị viện, họ phải được đại diện đầy đủ trong
Nghị viện.”
Ủng hộ
quan điểm này là Arend Lijphart, người lập luận rằng xã hội bị chia rẽ cần tới
hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ để bảo vệ lợi ích của nhóm thiểu số, nhưng
hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ (kết hợp với chế độ nghị viện) "almost invariably post the best records, đặc biệt là đối với các đại diện. . . sự tham gia của
cử tri, và kiểm soát tình trạng thất nghiệp.” Timothy Sisk cũng xác định"sự
đồng thuận về hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ" trong các cuộc tranh luận
về cách thiết lập hệ thống bầu cử tại Nam Phi, với mục tiêu là đồng thuận nhu cầu
chủ yếu về cấu trúc chính phủ tạo điều kiện cho sự thỏa hiệp chính trị: "Mặc
dù bị đe dọa bởi sự nổi dậy các phe phái cực đoan ly khai, các xã hội bị chia rẽ
như Nam Phi cần các thể chế có khả năng mở ra các lối thoát vươn đến sự ổn định
và thỏa hiệp”
Tuy
nhiên, một số học giả nổi tiếng lại không đồng ý với quan điểm trên. Theo lập
luận của học giả Guy Lardeyret, cách tốt nhất để chống lại xu hướng cạnh tranh
bầu cử theo sắc tộc là “buộc các thành viên của mỗi nhóm cạnh tranh với nhau
trên nền tảng ý thức hệ và chính trị hệ trong các đơn vị bầu cử một thành
viên", trong khi đó, "cách thức tồi tệ nhất là thông qua hệ thống bầu
cử đại diện theo tỷ lệ, vì hệ thống này có xu hướng tái phân chia giai cấp sắc
tộc trong cơ quan lập pháp." Lardeyret tin rằng trong tương lai, Nam Phi sẽ
hứng chịu một thảm cảnh kinh hoàng nếu không có sự phát triển của"các đảng
phái đa sắc tộc lớn và trung bình"và thừa nhận rằng các cuộc bầu cử đa số
sẽ có nhiều khả năng giúp các đảng phái này ngày càng lớn mạnh. Lý luận này được
lặp lại bởi Donald Horowitz, người cho rằng "hình thức bầu cử theo thỏa thuận",
có nghĩa là các bên đều được khuyến khích vận động bầu cử dựa trên sự phân chia
về mặt xã hội, “là trọng tâm của thỏa hiệp liên nhóm trong các xã hội có sự
chia rẽ nghiêm trọng.”. Hình thức “bầu cử theo thỏa thuận” này, theo lập luận của
Horowitz, sẽ diễn ra thuận lợi nhất thông qua hệ thống bầu cử “lá phiếu thay thế”,
một hình thức sửa đổi của đa số đơn vị bầu cử một thành viên có liên quan đến
việc phân bổ lại sự lựa chọn thay đổi của cử tri cho đến khi một ứng cử viên
giành được đa số phiếu bầu.
Sự phát triển gần đây
Trong năm
năm vừa qua, Nam Phi đã chứng kiến cảnh tượng thay đổi liên tục chưa từng có của
hiến pháp nước này kể từ khi chế độ thực dân châu Âu kết thúc trong những năm
1960. Namibia đã trở thành một nền dân chủ đa đảng vào năm 1989, với sự tuyên bố
độc lập chính thức từ phía Cộng Hòa Nam Phi vào năm 1990; và hệ thống chính trị
của Zambia chuyển sang tính chất dân chủ vào năm 1991. Cộng Hòa Nam Phi và
Malawi hoàn thành quá trình chuyển đổi dân chủ ấn tượng của họ vào năm 1994, và
Mozambique cũng góp tên vào danh sách các nước bắt đầu tổ chức các cuộc bầu cử
tự do và công bằng vào cuối năm đó. Trong số các quốc gia còn lại tại khu vực
Nam Phi, Zimbabwe, Botswana, Lesotho và đã trải qua các mức độ đấu tranh chính
trị khác nhau, trong khi Angola đã có những bước thăm dò hướng tới một thỏa thuận
hiến pháp mới và chấm dứt xung đột dân sự. Duy chỉ có Tổng thống Mobutu Sese
Seko của Zaire tiếp tục củng cố xu hướng cai trị độc tài đang ngắc ngoải, duy
trì quyền lực mặc dù ông này vẫn hợp pháp hóa sự tồn tại của các đảng đối lập
vào năm 1990.
Hiện nay,
các quốc gia thực hiện "bầu cử dân chủ" thành công nhất ở khu vực Nam
Phi là Malawi, Namibia, Cộng hòa Nam Phi và Zambia. Zimbabwe cũng đang trải qua nền bầu cử tương
đối tự do, công bằng, và định kỳ từ năm 1980, nhưng hoạt động cạnh tranh trong
bầu cử đã được rút ngắn từ năm 1987. Trong số năm nước này, Malawi, Zimbabwe và
Zambia có thể được phân loại vào nhóm hệ thống đa tổng thống theo mô hình
"các loại hình dân chủ cơ bản" của nhà khoa học xã hội Lijphart,
trong khi Cộng hòa Nam Phi đi theo hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ có tính
chất Nghị Viện. Danh hiệu Tổng thống Nelson Mandela thực ra đã bị nhầm lẫn: mặc
dù cuộc bầu cử Quốc hội Nam Phi năm 1994 gợi nhớ tới một chiến dịch tranh cử tổng
thống, nhưng trong thực tế, Nelson Mandela không trực tiếp được bầu ra. Quyền lực
cai trị tối thượng có tính chất cổ điển của ông xuất phát từ việc trước đây,
ông nắm vị trí lãnh đạo của các đảng lớn nhất trong Nghị Viện. Namibia đã bắt đầu
quá trình dân chủ hóa của mình trong một tình huống tương tự, với sự lãnh đạo của
"Tổng thống" Sam Nujoma, và vào tháng 12 năm 1994, hệ thống bầu cử của
nước này bắt đầu chuyển đổi thành hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ kết hợp với
quyền tổng thống thật sự.
Lập luận
cho rằng các cuộc bầu cử đa số khiến cho sự phân cực trong khu vực và sắc tộc
trở nên ngày càng trầm trọng đã được củng cố vững chắc từ những kinh nghiệm của
các nền dân chủ non trẻ của tại khu vực Nam Phi.
Malawi
Các kết
quả của cuộc bầu cử đa đảng hồi tháng 5 năm 1994 tại Malawi đã cho thấy cả ba đảng
chính trị chủ yếu đều có vị thế thống trị áp đảo tại khu vực trung tâm của
mình, và cực kỳ yếu thế ở hai khu vực còn lại. Tuy vậy, số lượng ghế mà mỗi đảng
giành chiến thắng trong một khu vực nhất định không phản ánh chặt chẽ tỷ lệ phiếu
đượ cthăm dò tại đó. Liên minh Dân Chủ (AFORD), với sự lãnh đạo của Chakufwa
Chihana, đã giành chiến thắng tất cả số ghế tại khu vực phía Bắc, mặc dù các ứng
cử viên không thuộc Liên minh này đã giảnh được gần 15% số phiếu tại khu vực
này. Đại hội Đảng Malawi (MCP) của Tổng thống đương nhiệm Hastings Banda Kamuzu
thắng hoàn toàn 75% số ghế tại khu vực miền Trung trong khi nhận được khoảng
hơn 60% số phiếu bầu. Tại khu vực phía Nam, Mặt trận Dân chủ (UDF) của ứng cử
viên tổng thống tiềm năng Bakili Muluzi giành 95% số ghế chỉ với 75% số phiếu bầu.
Tỷ lệ tổng số ghế mà mỗi bên đã đạt được trong Quốc hội gần sát với tỷ lệ phần
trăm số phiếu bầu, nhưng sự phân phối ghế tạo ra một hình ảnh sai lầm về sự đồng
nhất trong khu vực, và rất có khả năng điều này sẽ phá vỡ nỗ lực xây dựng sự
đoàn kết chính trị giữa các nhóm dân tộc.
Zimbabwe và Zambia. Sự biến mất của một phe
đối lập chính trị mạnh mẽ ở Zimbabwe và Zambia trong những năm gần đây cho thấy
những mối đe dọa mà đa số các cuộc bầu cử có thể tạo ra cho sự xuất hiện của
các đảng mới trong nền dân chủ non trẻ. Jonathan Moyo cho rằng tín hiệu cảnh
báo nguy hiểm nền dân chủ ở Zimbabwe rõ ràng nhất vào năm 1990, khi các đảng
đối lập chỉ nhận được hai ghế trong Nghị Viện dù giành được 20% số phiếu phổ
thông. Theo tính toán của Moyo, nếu các cuộc bầu cử được tiến hành dưới hình thức
danh sách của hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ, phe đối lập có thể mong chờ
khả năng giành được 23 ghế trong Nghị Viện – một nền tảng vững chắc hơn làm bàn
đạp để chỉ trích chỉ trích chính sách của chính phủ. Trong cuộc bầu cử đa
nguyên năm 1991 của Zambia, Phong trào cổ vũ Dân chủ hóa Đa nguyên Frederick
Chiluba (MMD) giành được 125/150 số ghế trong Nghị Viện, đủ để thực hiện cai trị
mà không bị cản trở cũng như đơn phương sửa đổi hiến pháp. Theo lời của nhà báo
Jowie Mwiinga, "Tổng thống hầu như không chịu áp lực tổ chức nào về việc
thanh lọc chính phủ, nhờ sự vắng mặt của đảng đối lập hoặc cơ quan báo chí độc
lập."
Nam Phi.
Việc sử dụng một hệ thống bầu cử đa số trong các cuộc
bầu cử năm 1994 tại Quốc hội Nam Phi đã gây ra một số kết quả không khả quan,
trước mắt là sự phủ nhận lợi ích của nhóm thiểu số đến từ cơ quan đại diện Nghị
Viện. Bất chấp những đóng góp về mặt địa lý của họ cho chiến dịch bầu cử, Phe Mặt
trận Tự Do (giành 9 ghế trong cuộc bầu cử thực tế), Đảng Dân chủ (7 chỗ), Nghị
viện châu Phi (5 ghế) và Đảng Dân chủ dòng Hồi Giáo Châu Phi (2 ghế) đã thất bại
trong việc giành được một ghế trong Nghị viện. Mặc dù tất cả các bên được đề cập
trên đây chỉ chiếm 6% trong cơ cấu Quôc hội Nam Phi, họ vẫn có một tầm quan trọng
không thể phủ nhận trong cơ cấu chính phủ, dù vị trí này không tương xứng với lợi
thế về số lượng của họ.
Đảng Mặt
trận Tự Do của Tướng Constand Viljoe đại diện cho cử tri cư trú tại khu vực
Trung Phi rất dễ dao động và rất có thể sẽ rơi vào vòng cai trị của white-supremacist demagogues such as Eugene Terre’blanche
nếu các đại diện của Đảng này bị đẩy ra ngoài rìa của chính
trường. Tương tự, Đảng Đại hội các Dân tộc Nam Phi (PAC) bị torn between the ballot box and the AK-47. Nếu Đảng này bị từ chối quyền đại diện nghị viện,
cánh khủng bố vũ trang của Đảng này sẽ nổi dậy, đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng
đến sự ổn định ở Nam Phi ngay trong thời kỳ hậu bầu cử. Tầm quan trọng của vị
trí mà Đảng Dân chủ DP giành được trong Quốc hội Nghị Viện cũng không thể bị
đánh giá thấp. Các nhà lãnh đạo của Đảng này đóng vai trò quan trọng trong việc
thiết lập các yếu tố về tự do của hiến pháp tạm thời, và sự hiện diện của Đảng
Dân chủ DP trong Quốc hội mới rất cần cho việc đảm bảo rằng such tolerance remains the official creed of the land.
Hệ thống
bầu cử đại diện theo tỷ lệ - danh sách được áp dụng trong thực tế tại các cuộc
bầu cử ở khu vực Nam Phi có vẻ như không phải là lợi thế hay bất lợi đối với Đảng
Dân tộc và Đảng Tự Do Inkatha, vì bản chất "trưng cầu dân ý" của các
chiến dịch đã dẫn đến một trận chiến tay đôi giữa cái cũ và cái mới: giữa Đại hội
Dân tộc Phi và Đảng Tự do Inkatha ở tỉnh KwaZulu-Natal, giữa Đại hội Dân tộc
Phi và Đảng Dân tộc tại các khu vực khác của quốc gia này. Xét đến tính chất sắc
tộc đồng nhất của các khu vực bầu cử và sự tập trung hỗ trợ mạnh về mặt địa lý ở
khu vực Nam Phi, khi áp dụng hệ thống bầu cử cử tri một thành viên, Đảng Dân tộc
chỉ thắng ít hơn một số ghế và và Đảng Tự do Inkatha thì giành được nhiều ghế
hơn một chút so với khi áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Tuy nhiên,
những bất thường của hệ thống bầu cử Anh – Mỹ được tóm tắt trong tuyên bố
Vernon Bogdanor rằng "số ghế mà một bên thắng trong cuộc tổng tuyển cử
không chỉ phụ thuộc vào số phiếu nhận được
mà còn vào địa điểm bỏ phiếu" - sẽ giúp Đại hội Dân tộc Phi giành được tất
cả các ghế trong Nghị viện ở miền Bắc và Đông Transvaal, Tây Bắc và Đông Cape,
chỉ trừ một trong những ghế của quốc gia
Orange Free State. Tại tỉnh Western Cape, Đảng Dân tộc giành được 80% số ghế với
chỉ hơn một nửa số phiếu phổ thông. Rõ ràng là những kết quả này sẽ khiến cho sự
phân cực sắc tộc và khu vực ngày càng nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho sự phát
triển của một hệ thống chính trị ổn định ở Nam Phi. Bầu cử đa số đã gây ra tổn
thất cực kỳ lớn vì đã loại bỏ sự xuất hiện của các nhóm thiểu số nhỏ hơn hoặc
không phân biệt chủng tộc và không được nhắc tới trong hiến pháp cũ.
Proportional Representation in Action
Đại diện
tỷ lệ chắc chắn là một phần không thể thiếu trong các nỗ lực chia sẻ quyền lực
và thỏa hiệp sắc tộc ở cả hai miền Nam Phi và Namibia. Tuy nhiên, chỉ riêng hệ
thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ không thể đảm bảo sự tồn tại của một chính phủ
đa đảng ở Nam Phi vì một đảng duy nhất chiếm ưu thế có thể đã hình thành được
nên một chính quyền đơn phương nếu hiến pháp tạm thời không thể hiện được đặc
trưng liên minh chặt chẽ giữa chính quyền
và các đảng phái. Điều mà hệ thống bầu cử này đã làm được là thể hiện được
Điều 88 của Hiến pháp, tức là đảm bảo rằng những bên đã giành được 5% số ghế
trong Quốc hội sẽ giành được một “chân” trong danh sách bộ của nội các. Do vậy,
hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ danh sách giúp Đảng Dân tộc của F.W.de
Klerk giành được 6 trong danh sách bao gồm 27 chức vụ nội các, Đảng Tự do Inkatha thì giành được 3/27.
Sự chia sẻ quyền lực thực tế được đảm bảo khi một thành viên của Đảng Quốc gia
được xướng tên làm người đứng đầu Bộ Tài Chính và lãnh đạo Đảng Tự do Inkatha,
ông Mangosuthu Buthelezi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Nội vụ. Như vậy, tại Nam
Phi, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã giúp thực hiện một trong những
nguyên tắc cơ bản về kiểu dân chủ mà nhà khoa học Lijphart đã đề cập - một
"chính phủ “liên minh lớn ", thành lập bởi một liên minh đại diện rộng
rãi của tất cả các nhóm phe phái”
Trong cuộc
bầu cử Namibia năm 1989 hay trong cuộc bỏ phiếu tại Cộng Hòa Nam Phi năm 1994,
hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã đảm bảo rằng hầu như không tồn tại bất cứ
“lá phiếu bị lãng phí” nào. Tại Namibia, 99% số phiếu bầu đã được bỏ vào hòm;
con số này còn cao hơn ở Cộng Hòa Nam Phi. Mức độ hiệu quả cao này chủ yếu là
do ngưỡng mức đại diện cần thiết đủ thấp để giành được một ghế trong Nghị viện
theo hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ danh sách trên toàn quốc (0,7% tại
Namibia, 0,2% tại Nam Phi). Lijphart đã lập luận rằng, đối với những nền dân chủ
non trẻ, “áp dụng hệ thống bầu cử này một cách hợp lý [với ngưỡng mức cao] và
chế độ đa đảng vừa phải giống như ở Đức và Thụy Điển, sẽ cho ra các mô hình hấp
dẫn hơn so với cách áp dụng triệt để hệ thống này [với ngưỡng thấp] và hệ thống
đa đảng của Ý và Hà Lan ", lý luận rằng một hệ thống bên rất phân tán sẽ rất
bất lợi cho việc hình thành các liên minh và sự ổn định chính phủ sau đó. Tuy vậy,
các bằng chứng thực nghiệm từ khu vực Nam Phi cho thấy rằng chi phí bỏ ra cho
việc loại trừ các đảng phái nhỏ lẻ nhưng có ý nghĩa thông qua một ngưỡng cao
(5%) đã vượt quá lợi ích thu được. Thậm chí nếu ngưỡng chỉ dừng ở con số 3%, một
số phe phái chính trị quan yếu đã có thể bị loại bỏ khỏi kỳ bầu cử Quốc hội Nam
Phi đầu tiên, hầu như toàn bộ, trừ ba Đảng lớn nhất tại Namibia sẽ bị tước quyền
đại diện. Trong các giai đoạn ban đầu của một nền dân chủ mới, nhu cầu được tồn
tại trong hệ thống của tất cả các nhóm áp đảo mối lo ngại về các trở ngại mà các nhà tạo dựng liên minh phải đối mặt
trong Quốc hội được bầu ra sau này.
Đại diện theo tỷ lệ cũng đã và đang cho phép Nghị viện Cộng hòa Nam Phi phản
chiếu toàn bộ xã hội của nước này. Các danh sách quốc gia trong trạng thái
“đóng” để cử tri không thể sửa đổi hay tái lập trật tự của danh sách này, đã
cho phép các đảng ra mắt các nhóm ứng cử viên đồng nhất về mặt sắc tộc với anticipated cross-cutting appeal. Kết quả tại Quốc hội là
52% người Da đen, 32% người Da trắng, 8% người Anh điêng và 7% người Da màu, so
với một dự đoán cử tri như sau: 73% người Da đen, 15% người Da trắng, 3% người
Anh điêng và 9% người Da màu. Người Anh điên tại Nam Phi giành được 30 ghế nghị
viên, 4 ghế Bộ trưởng nội các. Bên cạnh đó, việc một loạt nghị sĩ nữ đại diện
cho Đảng Đại hội Dân tộc Phi – hiện tại số nghị sĩ nữ chiếm tới gần 1/3 trong
Nghị viện – đã nâng tổng số phần trăm phụ nữ trong Quốc hội lên tới 24% trong tổng
số nghị sĩ, và đây là con số lớn nhất trên thế giới. Dựa vào các bằng chứng từ
Anh và các quốc gia khác với hệ thống bầu cử đơn thành viên nắm toàn bộ quyền,
có vẻ như khá công bằng khi surmise
rằng việc sử dụng bầu cử đa nguyên tại Cộng hòaNa m Phi đã tạo ra một Quốc hội
kém đồng nhất và đa cực hơn, với số ứng viên da trắng trong nhiều đảng đại diện
cho đa số khu vực cử tri, người Xhosa đại diện cho dân Xhosa và người Zulu thì
chỉ đại diện cho dân Zulu.
Một số chỉ trích và luận điểm bác bỏ
Lời chỉ trích gần đây nhất và kịch liệt nhất dành
cho kế hoạch sử dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ trong các nền dân chủ
mới nổi là của Lardeyret, người đã vạch ra 5 cách thức mà hệ thống bầu cử này
có thể sẽ góp phần ngăn cản các giải pháp giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội
bị chia rẽ. Theo lập luận của Lardeyret, đầu tiên, hệ thống bầu cử đại diện
theo tỷ lệ có xu hướng tạo điều kiện nổi lên của các nhóm phần tử cực đoan (ông
lấy Đảng Mặt trận Quốc gia Pháp làm ví dụ thực tế), mà rất có thể các đảng cực
đoan đối lập khác sẽ nhân cơ hội này mà lần lượt nắm quyền đại diện. Tuy nhiên,
trong thực tế, hệ thống bầu cử này chỉ giúp đáp ứng nguyện vọng được đại diện của
các nhóm thiểu số, chứ không giới thiệu các đảng nhóm mới, và phản ánh được
kích thước thực tế chứ không hề thổi phồng bất cứ sự hỗ trợ nào của các đảng
nhóm này. Hơn nữa, như đã nói ở trên, trong các xã hội bị chia rẽ sâu sắc nhất,
việc cho phép các đảng nhóm bên ngoài chung tay giúp đỡ chính thể dân chủ kết nạp
các nhóm cực đoan, cung cấp cho các nhóm này động lực để giải quyết vấn đề
thông qua bầu cử, tránh bạo lực xung đột.
Lời chỉ trích thứ hai của Lardeyret tập trung vào việc
chỉ ra rằng trường hợp thực tế tại Bỉ cho thấy hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ
lệ rất nguy hiểm cho các nước đang đối mặt với sự chia rẽ về văn hóa hay sắc tộc.
Ông khẳng định rằng tại Bỉ, “các linguistic party đã nổi lên sau khi hệ thống bầu cử đại diện theo
tỷ lệ được giới thiệu vào đầu thế kỷ 21”, khiến nền chính trị Bỉ: “khoét sâu mối
quan hệ đối lập giữa hai phe: Flemings và Walloons nói tiếng Pháp”. Một lần nữa,
Lardeyret lại bị nhầm lẫn phản ánh và nguyên nhân: Chính trị Bỉ vốn đã, đang và
sẽ phát triển along linguistic and, to a lesser
extent, religious lines mà không hề liên quan tới việc lựa chọn hệ thống
bầu cử cụ thể nào. Các bằng chứng ban đầu từ khu vực Nam Phi chỉ ra rằng hệ thống
bầu cử đại diện theo tỷ lệ đã làm gia tăng áp lực lên các đảng phái khiến các đảng
phải này ngày càng ít có xu hướng độc quyền về mặt sắc tộc. Trong Quốc hội Nam
Phi mới, gần 1/3 trong tổng số 130 thành viên da trắng của Quóc hội đại diện
cho Đảng Đại hội Dân tộc Phi ANC, và Đảng Dân tộc của F.W. de Klerk thì giành
được nhiều phiếu bầu từ người da màu hơn là từ người da trắng.
Lời chỉ trích thứ ba của Lardeyret dành cho hệ thống
bầu cử đại diện theo tỷ lệ trong nền dân chủ mới là rằng các chính phủ liên
minh đa đảng thường gây mất ổn định và không có khả năng để thực hiện các chính
sách chặt chẽ. Lập luận này có lẽ có tính thuyết phục nhất. Chính phủ mới của
Nam Phi chất lên mình gánh nặng kỳ vọng rất lớn, và bản chất factionalized của "nội
các đoàn kết toàn quốc" do Mandela đề xướng có thể là một quá trình quyết
định hobble. Tuy nhiên,
vì cũng như các nơi khác ở khu vực Nam Phi, việc thay thế kiểm soát bởi một đảng
đơn lẻ, cộng thêm sự vượt quyền số đông của đảng đó sẽ khiến cho tình hình ngày
càng xấu đi. Không chính phủ nào, thậm chí không một chính phủ độc đảng, sẽ có
thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu xã hội dân sự vẫn chênh vênh trên bờ vực sụp đổ
vĩnh viễn. Hơn nữa, Lijphart đã chỉ ra rằng chính phủ được bầu thông qua hệ thống
bầu cử đại diện theo tỷ lệ không hề kém hiệu quả hơn so với các chính phủ được
lập nên bởi các hệ thống bầu cử khác. Thật vậy, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ
lệ giúp tạo ra một chính phủ có tuổi thọ cao hơn, sự tham gia của cử tri, và hiệu
suất kinh tế tốt hơn.
Một chỉ trích khác của Lardeyret xoáy vào việc hệ thống
bầu cử đại diện theo tỷ lệ không chỉ cho phép các đảng cực đoan bước chân vào
quốc hội, mà còn góp phần làm bàn đạp phát triển của họ, vì các đảng này thường
kiểm soát các ghế “xoay” có khả năng tác động hay phát vỡ thế liên minh đa số.
Điều này có thể đúng, nhưng như các trường hợp của Nam Phi và Namibia có thể thấy,
việc đưa các đảng nhóm thiểu số - không quan trọng việc họ cực đoan tới mức nào
– vào trật tự chính trị dân chủ là một lựa chọn thay thế đúng đắn hơn việc đẩy
họ ra bên rìa hệ thống.
Lardeyret khẳng định rằng bầu cử đa nguyên có khả
năng thúc đẩy các đảng nhóm trung bình hơn bầu cử đại diện theo tỷ lệ, vì dưới
một hệ thống như vậy, các đảng nhóm buộc phải cạnh tranh liên tục để giành lấy
các lá phiếu tập trung vẫn chưa đi đến quyết định cuối cùng. Không chỉ chính phủ
của “bà đầm thép” Thatcher nước Anh (1979 – 1990) và chính phủ của Đảng Dân tộc
tại Cộng hòa Nam Phi (1948 – 1994) đang vận hành bằng cách này, nhưng quá nhiều
bình ổn trong một hệ thống đa nguyên là điều không được mong đợi vì riêng trong
hệ thống này, một đảng chiếm ưu thế có thể dễ dàng dựa vào việc chiến thắng áp
đảo, như tình hình hiện tại đang diễn ra ở Cộng hòa Nam Phi, Zimbabwwe, Zambia
và Namibia. Tại khu vực Nam Phi, chỉ mỗi Malawi thiếu một đảng đứng đầu, và,
như đã đề cập ở trên, bầu cử tại Malawi chia thành hai nửa: phe khu vực và phe
sắc tộc, ở giữa là nhóm cử tri chưa đi đến quyết định cuối cùng với số lượng
không đáng kể.
Mức độ đại diện theo địa lý và trách nhiệm với cử
tri trong các khu vực bầu cử từ lâu đã được coi là một lợi thế của hệ thống bầu
cử đa nguyên trước hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Đúng là kích thước khu vực
bầu cử áp dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ - danh sách đa thành viên lớn
có thể phá hủy mối liên kết giữa một đại diện và một khu vực địa lý cụ thể (với
trường hợp của Cộng hòa Nam Phi, mỗi thành viên trong tổng số 20 thành viên đại
diện cho trung bình 2,5 triệu cử tri). Roelf Meyer, bộ trưởng phát triển Hiến
pháp, đã khẳng định rằng điều này là một “điểm yếu nghiêm trọng”, và “bất cứ Hiến
pháp mới nào cũng bắt buộc phải đưa ra các đại diện có phân chia rõ ràng”. Việc
sử dụng danh sách đóng bao gồm các đảng tại Cộng hòa Nam Phi và Namibia thật sự
có vấn đề, vì các nghị sĩ chịu sự kiểm soát của các lãnh đạo các đảng trong các
trụ sở đảng quốc gia hơn là thuộc về cộng đồng địa phương hay toàn thể xã hội.
Để khắc phục điều này mà không vi phạm quy tắc tỷ lệ cơ bản của Quốc hội, các
nhà thiết kế Hiến pháp có thể sử dụng các khu vực bầu cử đa thành viên nhỏ hơn
(có lẽ mỗi khu vực chỉ nên có từ 5 tới 12 thành viên) được thiết kế để khớp với
giới hạn xã hội và giới hạn địa lý truyền thống, cũng như các danh sách mở mà ở
đó, các cử tri lựa chọn các ứng cử viên cũng như các đảng. Tại Cộng hòa Nam
Phi, mục tiêu chính của hệ thống này do các thành viên của Đảng Đại hội Dân tộc
Phi đưa ra. Đảng Đại hội Dân tộc Phi đã từng tranh luận về việc bầu cử cho các
cá nhân tranh cử thay vì các đảng nhóm sẽ cực kỳ phức tạp đối với rất nhiều các
cử tri không biết chữ của đất nước này. Tuy nhiên, một hệ thống như vậy vẫn sẽ
chỉ đưa ra cách bầu cử đơn giản nhất có thể: cử tri sẽ chỉ cần đánh dấu chấm cạnh
tên và biểu tượng của một ứng cử viên yêu thích nhất, và mức độ bỏ phiếu hỏng
thấp (ít hơn 1%) trong các cuộc bầu cử năm 1994 cho thấy tình trạng mù chữ
trong giáo dục không nhất thiết đồng nghia với tình trạng thiếu nhận thức về
chính trị.
Trong khi gia tăng tính đại diện và trách nhiệm về mặt
địa lý, việc điều chỉnh hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đơn giản như vậy
cũng sẽ giúp duy trì các lợi ích tổng thể mà hệ thống này cung cấp cho xã hội
đa sắc tộc. Các khu vực bầu cử đa thành viên vẫn sẽ có khả năng cung cấp lựa chọn
đại diện để cư dân của mình có thể tiếp cận các vấn đề thực tế liên quan trong
khu vực bầu cử. Trong thực tế, điều này cũng có nghĩa: các cử tri có thể tiếp cận
một nghị sĩ Ndebele hoặc một nghị sĩ Shona tại Matabeleland, Zimbabwe, một nghị
sĩ Chewa, Lomwe hoặc một nghị sĩ Yao tại Lilongwe, Malawi, hoặc một nghị sĩ
Zulu, Xhosa, White hay Indian tại miền nam KwaZulu, Cộng hòa Nam Phi. Cuối
cùng, hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ - danh sách dựa trên khu vực bầu cử sẽ
đóng vai trò như một động lực cho các đảng gia tăng ủng hộ theo sắc tộc – nói
cách khác, duy trì sự hiện diện sự đa dạng của các ứng cử viên, và qua đó tối
đa hóa số phiếu bầu lẫn số ghế trong Quốc hội.
Chế độ Tổng thống hay chế độ Đại nghị?
Sau khi lựa chọn hệ thống bầu cử, lựa chọn cơ bản thứ
hai mà các nền dân chủ mới phải đối mặt là đi theo chế độ chính phủ tổng thống
hay chế độ chính phủ đại nghị. Khi cuộc tranh luận được đặt lên bối cảnh khu vực
Nam Phi, các quan điểm rất dễ bị tô điểm bởi màn thể hiện của các tổng thống
các nước châu Phi tiền nhiệm, rằng liệu họ đã từng được bầu cử một cách dân chủ
hay không. Đứng trước làn sóng dân chủ hóa gần đây nhất, uy tín chính trị của
các tổng thống tại Nam Phi đều rơi từ khoảng tính từ: “tồi tệ” cho đến “tàn bạo”.
Toàn bộ các nước được đem lên bàn thảo luận tại đây đều đã đang hứng chịu chuỗi
lịch sử tổng thống đau thương, rất dễ khiến cho người ta nghĩ rằng chính sự đau
thương mang tính lịch sử ấy khiến họ sẵn sàng tìm mọi cách né tránh việc mạo hiểm
trao quá nhiều quyền lực cho bất kỳ một cá nhân nào đó. Tuy nhiên, vào năm
1985, Zimbabwe đã trực tiếp bầu cử vị trí tổng thống và 9 năm sau, Malawi đã thực
hiện hoạt động tương tự. Từ việc bầu cử tổng thống không trực tiếp, năm 1994,
Namibia đã chính thức thực hiện kỳ bầu cử tổng thống trực tiếp, và Cộng hòa Nam
Phi đã hiện thực hóa quyền kiểm soát của tổng thống if not the reality, bằng cách gọi tên chức vụ tổng
thống bằng danh xưng: “chủ tịch điều hành quốc gia”.
Thiết kế hiến pháp hợp lý cho xã hội bị chia rẽ
không ủng hộ tổng thống được bầu trực tiếp trong xã hội dân chủ hóa mới nổi tại
khu vực Nam Phi. Lijphart cảnh báo rằng, trong khi “sự kết hợp của tư cách nghị
viện với đại diện theo tỷ lệ nên là yếu tố gây thu hút đặc biệt đối với các quốc
gia đang thực hiện dân chủ hóa và quốc gia dân chủ mới nổi,” kinh nghiệm từ khu
vực Mỹ Latin cho thấy cần tránh không sử dụng hệ thống bầu cử tổng thống bằng đại
diện theo tỷ lệ. Matthew Shugart và John Carey đã xác định ba đặc điểm cơ bản của
chế định tổng thống thường gây ra các hậu quả tiêu cực như: sự cứng nhắc tạm thời,
thể chế đa số và lập pháp dân chủ kép. Trong ba hậu quả này, thể chế đa số gây
tổn hại nghiêm trọng nhất tới sự ổn định của các xã hội bị chia rẽ sắc tộc. Bản
chất “một người thắng” của chính quyền được bầu cử trực tiếp có tính đối nghịch
với chế độ tổng thống tại khu vực Nam Phi. Trong một xã hội bị chia rẽ chưa bao
giờ có một nền dân chủ ổn định, không có gì đảm bảo được rằng kẻ thua cuộc hay
những kẻ bại trận trong cuộc đua vào chức vụ tổng thống sẽ chấp nhận thất bại
trong cuộc chơi có tổng bằng không (zero-sum
game). Như các bằng chứng gần đây tại Angola và Nigeria cho thấy, hầu như
không có chút hy vọng nào cho cơ chế Hiến pháp tinh vi được thiết kế nhằm đẩy mạnh
hoạt động chia sẻ quyền lực nếu nền dân chủ non trẻ mỏng manh sụp đổ ngay tại
chặng đua đầu. Ann Reid, thành viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, dồn hết trách nhiệm
lên sự sụp đổ của các kế hoạch hòa bình tại Angola và cuộc xung đột đẫm máu với
phần lớn nguyên nhân thuộc về hệ thống tổng thống của nước này: Xét tới bối cảnh
“cả [José Eduardo] Dos Santos và [Jonas]
Savumbi đều ra sức ganh đua giành vị trí đáng giá duy nhất”, việc Savimbi sẽ tiếp
tục đấu tranh bạo lực sau khi thua trong cuộc tranh cử là điều không thể tránh
khỏi. Tại Nigeria, cấu trúc “được ăn cả ngã về không” của cuộc tranh cử tổng thống
năm 1993 đã gần như bị kết thúc bởi quân đội trước khi kết quả được công bố:
các ứng cử viên và các phe phái chính trị thất bại không đạt được lợi ích gì
nhiều khi cuộc bầu cử kết thúc, và rất nhiều người sẵn sàng nhượng bộ cuộc can
thiệp của quân đội với hy vọng sẽ có thể tranh cử một lần nữa. Hơn nữa, Ian
Campbell khẳng định, rằng chế độ tổng thống đã gây ra sự tăng mạnh đáng kể chứng
nham nhũng trong cuộc chạy đua số phiếu bầu. “Vấn đề ở đây có thể là do “kích
thước giải Jackpot” (Jackpot: giải thưởng
dành cho người thắng cuộc tại casino, được cộng thêm từ số tiền của người thua
cuộc), với quá trình sàng lọc (dành cho ứng viên ứng cử vị trí tổng thống)
được nhìn nhận là “cơ hội đầu tư” và vị trí tổng thống là “nguồn trục lợi không
ngừng nghỉ””
Mối nguy hiểm khác của hệ thống tổng
thống là một tổng thống được bầu cử trực tiếp có xu hướng bị làm áp lực độc quyền
về mặt dân tộc hay khu vực. Những tổng thống như vậy có động lực lớn khi đưa ra
các ưu đãi đặc biệt cho nhóm dân tộc hoặc khu vực riêng của họ như một phương
tiện đảm bảo tái tranh cử thông qua đa số phiếu bầu. Nền dân chủ ở Malawi,
Namibia và Zimbabwe có nguy cơ lớn bị đe dọa. Ở Malawi, Bakili Muluzi thắng cử
tổng thống năm 1994 với 47,2% số phiếu bầu, hầu hết đến từ phần cổ phiếu khổng
lồ tại khu vực phía Nam quê hương ông. Ở miền Nam, nơi chiếm một nửa dân số đi
bỏ phiếu, Muluzi giành được 78% số phiếu bầu, trong khi ở khu vực trung tâm,
Malawi chỉ giành được 27,8% và 4,5% số phiếu tại phía Bắc. Như đã đề cập ở
trên, chính trị Malawi đang bị chia cắt sâu sắc dọc theo các đường khu vực, và
bất kỳ cấu trúc hiến pháp nào vĩnh viễn tước bỏ quyền lực của một khu vực, toàn
bộ quốc gia này sẽ rơi vào tình trạng bất ổn. Tổng thống Muluzi cũng có thể ủng
hộ chiến lược xây dựng quốc gia, phân phối đều nguồn lực trên cả nước, nhưng kết
quả tích cực như vậy không phải là do cơ cấu tổ chức của chính quyền mà là do
danh tiếng về đức hạnh của người đàn ông này. Tính năng động của hệ thống tổng
thống tại Malawi mong muốn Muluzi ưu ái quá mức khu vực phía Nam, hành động đủ
để duy trì một phần ba số phiếu từ các khu vực trung tâm, và phần lớn bỏ qua
các cử tri ở miền Bắc.
Tại Namibia, Dirk Mudge, cựu lãnh đạo
của đảng đối lập Liên minh Dân chủ Turnhalle (DTA), bày tỏ sự lo sợ tương tự về
chế độ tổng thống:
Về chính trị, đề xuất thực hiện chế độ
bầu cử tổng thống trực không hề tốt đẹp và rất nguy hiểm, vì nếu đề xuất này phủ
nhận sự tồn tại của hệ thống đa đảng. Người đứng đầu nhà nước theo chế độ đại
nghị được ủy thác của quốc hội đã trở thành biểu tượng của sự đoàn kết và hòa
giải, vì trong quá trình thực hiện quyền hành pháp của mình, người này cần phải
làm theo những mong muốn của các đại diện của nhân dân.
Trong thực tế, trong cuộc bầu cử dân
chủ đầu tiên của Namibia vào năm 1989, 70% trên 57,3% tổng số phiếu bầu quốc
gia của Sam Nujoma đến từ khu vực dân tộc của ông Ovamboland. Tại 22 quận bầu cử
ngoại vi Ovamboland, với 181.000 lá phiếu, Liên minh Dân chủ Turnhalle đánh bại
Tổ chức Dân tộc Tây Nam Phi của Nujoma chỉ với 159.000 lá phiếu. Trong cuộc bầu
cử tổng thống tháng 12 năm 1994, một lần nữa Nujoma chiến thắng áp đảo sau khi
tận dụng phần chia số phiếu tại Ovambo, với 72% số phiếu phổ thông đang tập
trung mạnh ở khu vực đông dân cư phía Bắc Ovambo
Những hành động của Robert Mugabe tại
Zimbabwe cho thấy một cách rõ ràng cách thức mà một tổng thống được bầu cử trực
tiếp nắm trong tay nhiều quyền lực có thể dùng biện pháp chính trị đẩy một nhóm
dân tộc ra ngoài rìa. 7 năm sau lần đầu tiên bước chân lên “ngai” nắm quyền vào
năm 1980, Đảng Mặt trận Yêu nước – Liên đoàn Quốc gia Phi châu – Zimbabwe
(ZANU-PF) trên cơ sở dân tộc Shona đã thành công trong việc đẩy Liên đoàn Dân tộc
Phi châu – Zimbabwe – Mặt trận Yêu nước trên cơ sở dân tộc Ndebele (PF-ZANU) ra
khỏi chính trường. Vào năm 1987, họ đã ký một thỏa thuận đoàn kết, trao cho ba
lãnh đạo PF-ZAPU các vị trí trong nội các để đổi lấy sự phục
tùng của họ với quy tắc độc đảng. Trong thực tế, chế độ tổng thống, kết hợp với
sự bành trường vô hạn của dân Shona đã sẽ giúp Mugabe duy trình chính phủ độc
đoán trong vấn đề dân tộc, ngay cả khi không phù với với Nkomo.
Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết của Lijhart cho rằng
cần tới sự đồng thuận chứ không phải là dân chủ số đông trong xã hội bị chia rẽ
(hay còn gọi là xã hội đa nguyên), thì việc trao toàn bộ quyền hành vào tay một
cá nhân duy nhất rõ ràng là rất bất lợi cho các thỏa thuận chia sẻ quyền lực
mang tính xây dựng. Hiến pháp Nam Phi tạm thời đã phần nào khắc phục vấn đề này
bằng cách tạo ra một "bộ ba" lãnh đạo từ các bên đại diện cho hơn 80%
của các cử tri. Sát cánh bên Tổng thống Mandela trong quá trình điều hành là
hai Phó Chủ tịch, Thabo Mbeki của Đảng Đại hội Dân tộc Phi ANC và F.W. de Klerk
của Đảng Dân tộc NP. Cơ chế chia sẻ quyền lực sáng tạo này tồn tại trong một hệ
thống đại nghị có thể tạo ra sự khác biệt giữa dân chủ ổn định và vòng xoáy
xung đột sắc tộc.
Shugart và Carey đã đưa ra “chế độ tổng
thống siêu việt" để thay thế cho chế độ tổng thống thông thường. Trong các
hệ thống này, sự hiện diện của thủ tướng sẽ làm dịu bớt “exaggerated sense of mandate.” Hơn nữa, tổng thống
có thể giải tán quốc hội và kêu gọi kỳ bầu cử mới khi cuộc khủng hoảng xảy ra,
điều này có thể giúp giảm thiểu các vấn đề của một nhiệm kỳ khó khăn. Tuy
nhiên, vì tồn tại thể chế đa số, do vậy, tương tự với chế độ tổng thống thông
thường, chế độ tổng thống siêu việt cũng không hề phù hợp với các nền dân chủ của
các nước tại khu vực Nam Phi . Như lưu ý của Shugart và Carey, "Vì nội các
nằm trong vòng kiểm soát của Quốc hội, nên nội các sẽ không có tính đại diện hẹp
cho các quyền lợi của tổng thống như một nội các tổng thống, tất nhiên trừ khi có hỗ trợ đa số trong quốc
hội cho quyền lợi hẹp của tổng thống. "
Khi kết quả của cuộc bầu cử ở Malawi,
Namibia, Zimbabwe và Nam Phi được giải thích lại theo một hệ thống tổng thống
siêu việt có tính giả thuyết, không thể nghi ngờ gì về việc một hệ thống như vậy
sẽ vẫn cho phép một đảng nắm quyền cai trị cả cơ quan hành pháp lẫn ngành lập
pháp của chính quyền và theo lối độc đoán về mặt sắc tộc. Sự hiện diện của nội
các đa nguyên theo luật định, như tại Nam Phi hiện thời, có thể làm dịu vấn đề,
nhưng theo quan sát của Scott Mainwaring, điều này cũng không gây ấn tượng
trong thực tế: "Chế độ tổng thống đa nguyên có nhiều khả năng tạo ra các bế
tắc về mặt quản trị/lập pháp hơn hệ thống đại nghị, thậm chí là hơn cả chế độ tổng
thống lưỡng nguyên. ". Những bế tắc này dẫn theo nguy cơ về sự bất mãn lan
rộng với chính phủ chia sẻ quyền lực mới, và trong vấn đề thỏa hiệp dân tộc, vấn
đề này sẽ khiến áp đảo bất cứ thành tựu nào của chính quyền.
Có lẽ việc Cộng hòa Nam Phi bầu ra một
chính phủ nghị viện với thủ tướng đứng đầu, và sau đó mới gán danh hiệu tổng thống
cho vị lãnh đạo này là lối đi mang tính xây dựng nhất xứng đáng để tiếp tục
theo đuổi trong tương lai.
Cùng với đại diện tỷ lệ toàn diện và
các sắp xếp chia sẻ quyền lực giữa đa số và thiểu số trong nội các, đất nước
này do đó cũng gains a national figurehead who
can serve as a rallying point. Tính hợp pháp của Tổng thống Mandela có được là dựa
trên cương vị lãnh đạo đảng nghị viện chiếm đa số và một nhánh hành pháp đại diện
cho hơn 90% cử tri của ông – một nền tảng vững chắc hơn nhiều so với tính đa
nguyên đơn thuần của bầu cử mà giúp hợp pháp hóa vị trí tổng thống từ bầu cử trực
tiếp.
Tìm kiếm các hệ thống ít khiếm khuyết nhất
Không có hệ thống bầu cử hoặc cơ chế
hiến pháp nào khác là hoàn hảo không tì vết. Nhiệm vụ của các nhà thiết kế hiến
pháp là tìm ra hệ thống ít khiếm khuyết nhất và sau đó điều chỉnh hệ thống này
sao cho phù hợp với nhu cầu của một nền dân chủ đang nổi lên, đạt được sự cân bằng
giữa một quốc hội đại diện và một chính phủ thống nhất; an understandable ballot; và một quốc hội tỷ
lệ thuận và nhiều liên kết vững chắc giữa đại diện và các khu vực địa lý cụ thể.
Mặc dù hoạt động thiết kế bầu cử hệ thống chỉ là một mắt xích trong bộ máy hiến
pháp phức tạp, nhưng nếu một mắt xích bị hỏng sẽ có thể khiến toàn bộ cấu trúc
rơi vào trạng thái đình trệ.
Xã hội bị chia rẽ và xã hội chưa từng
trải qua nền dân chủ vững mạnh có thể đặc biệt nhạy cảm với sự bất ổn nếu việc
thiết kế hệ thống bầu cử không đáp ứng một trong các tiêu chí sau:
- Tính
đại diện. Nếu một hệ thống bầu cử nhằm tối đa hóa tính hợp pháp và đảm bảo
mức độ đồng thuận của cử tri với hình thái chính phủ nào, hệ thống này buộc phải
thực hiện ý muốn của toàn bộ, chứ không chỉ là đa số cử tri.
- Khả
năng tiếp cận. Cơ quan lập pháp phải có tính đại diện ở mức độ giúp người
dân có cảm giác được tham gia vào tiến trình chính trị. Khi tất cả người dân cảm
thấy rằng lá phiếu của họ tạo ra sự khác biệt, họ rất có thể sẽ gắng sức ủng hộ
sự thay đổi của hệ thống thay vì ủng hộ các đảng và các tổ chức chống lại hệ thống
gây ra sự bất ổn trong xã hội.
- Tạo
ra động lực cho các hành vi hòa giải. Hệ thống bầu cử phải thúc đẩy một môi
trường thỏa hiệp và hòa giải, chứ không được phép làm trầm trọng thêm cuộc xung
đột hiện tại. Điều này không đồng nghĩa với sự đồng thuận cưỡng ép, mà là sự
công nhận lẫn nhau giữa quan điểm đối lập.
- Trách
nhiệm. Hệ thống bầu cử phải phát huy cao độ trách nhiệm của chính phủ và
các nghị sĩ với cử tri. Tầm ảnh hưởng của các cử tri lên đại diện của họ phụ
thuộc vào kích thước của các cử tri địa lý và phạm vi lựa chọn ứng viên của cử
tri, khác với các đảng nhóm.
- Khuyến
khích các bên liên ngành. Triển vọng ổn định được tối ưu hóa nhờ một hệ thống
bầu cử engender các đảng
bắt nguồn từ quan điểm chia sẻ về các vấn đề và các giá trị chính trị chứ không
phải là yếu tố dân tộc, ngôn ngữ, hay địa lý.
Bằng chứng ban đầu từ khu vực Nam Phi
cho thấy hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ hoạt động tốt hơn các hệ thống đa
nguyên khác xét trên ba tiêu chí đầu tiên được liệt kê ở trên. Rõ ràng, trách
nhiệm là một vấn đề được đặt ra khi áp dụng hình thức bầu cử đại diện theo tỷ lệ
với danh sách đóng tại các quận huyện lớn; việc sử dụng các khu vực cử tri nhỏ
hơn theo hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ đa thành viên liên kết với danh
sách mở có thể giúp giảm thiểu mặt tiêu cực của vấn đề này. Cho đến nay, hầu
như không có bằng chứng nào được đưa ra về sự khuyến khích của các bên liên
ngành khi áo dụng hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ hoặc đa nguyên ở khu vực
Nam Phi, nhưng rất có thể sự phát triển của các bên liên quan được tạo điều kiện
tốt nhất bởi các danh sách đảng broad-based cấp thiết dưới hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Cuối
cùng, những kinh nghiệm của Malawi, Zimbabwe và Nigeria cho thấy việc dốc sức
kiểm soát quản lý vào tổng thống được bầu cử trực tiếp là mối đe dọa cho sự ổn
định của một chính phủ đa đảng. Đối với những lý do này, hệ thống bầu cử đại diện
theo tỷ lệ nghị viện của chính phủ là lựa chọn tốt nhất cho các nền dân chủ non
xanh tại khu vực Nam Phi cũng như cho các nước chưa thực hiện việc chuyển đổi
sang dân chủ tại châu Phi như Angola, Mozambique, và Zaire.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét