REJOINDER: TRƯỜNG HỢP CÓ TỈ LỆ CÂN ĐỐI
(REJOINDER: THE CASE FOR PROPORTIONALITY)
Andrew Reynolds.
Andrew Reynolds là phó giáo sư ngành khoa học chính trị
tại Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Ông quan tâm đến những vấn đề về bầu
cử và dự thảo Hiến pháp trên phần lớn các quốc gia. Cuốn sách mới nhất của ông
có tên Cấu trúc của Dân chủ: Dự thảo Hiến pháp (constitutional design), Quản trị
xung đột và Dân chủ (2002). This essay được tờ Tạp chí Dân chủ (Journal of
Democracy) phát hành vào tháng 10 năm 1995.
Trong “Bầu cử trong xã hội nông nghiệp” (Elections in
Agrarian Societies), Joel Barkan đặt ra 1 thách thức lớn đến the newly emerging
conventional wisdom rằng proportional representation (PR) là cách thức bầu cử tốt
nhất dành cho những người thiếu kinh nghiệm – and often highly
divided-democracies of Africa. Trước tiên, ông phân tích những điểm yếu của PR
(or even severing) trong sự liên kết giữa những MPs riêng lẻ và những cử tri.
Chúng cản trở sự phát triển của chiều kích “thẳng đứng” (“vertical” dimension)
của dân chủ (đó là mối quan hệ tiêu biểu giữa những thành phần ưu tú và những
thành phần không ưu tú trong cùng một lợi ích chính trị chung), “giảm bớt những
triển vọng về sự thống nhất của luật lệ dân chủ” (tr.136). Theo Barkan, mối
quan hệ giữa những đại diện và những người bầu cử tồn tại trong một
single-member district (SMD) phản ánh rõ nhất bản chất của xã hội nông nghiệp tại
Châu Phi, mà những ràng buộc mạnh nhất là ở mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng
giềng và đất canh tác, đồng thời mọi người “xác định rõ những lợi ích chính trị
của họ… trên cơ sở nơi mà họ sống” (tr.136). Trong khi đồng tình rằng một vài cấp
độ của tính cân đối (thể hiện ở sự bảo vệ quyền lợi thiểu số) là a normative
good, ông cũng chỉ rõ rằng khuôn khổ sự phân chia bầu cử theo địa lý trong các
xã hội nông nghiệp cho phép hệ thống đa nguyên SMD (SMD plurality systems) bầu
ra quốc hội, đó là sự phản ánh hợp lí của sự phân bổ phiếu phổ thông trên cả nước.
Do đó họ có thể giữ lại một trong những trụ cột của chính phủ liên hiệp (a
proportionally constituted parliament) trong khi tránh xa những hạn chế cơ bản
của PR: Tình trạng phân rã và thiếu trách nhiệm giải trình của những người đại
diện được chọn lựa trong danh sách các bên.
Sự thật là khi mô hình bỏ phiếu gắn liền với sự chia
tách giữa các nhóm mà các nhóm ấy được xác định bới những đặc điểm tiêu biểu
(ví dụ như chủng tộc, sắc tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo), và khi những nhóm khác
tập hợn lại ở những khu vực khác nhau, cuộc bầu cử được tổ chức bởi đa số các
SMD có thể đem lại kết quả với tỉ lệ cao. Barkan cũng nhấn mạnh rằng, cuộc tổng
tuyển cử năm 1994 ở Malawi đã bầu ra một quốc hội mà quốc hội này là hình ảnh
trung thực về sự phân bố phiếu phổ thông trong ba đảng chủ chốt. Chỉ số mất cân
đối (ID) của cuộc bầu cử đo được mức độ mà sự phân bố các vị trí trong quốc hội
giữa những đảng khác nhau bằng với sự phân bố các lá phiếu, con số 0 cho thấy một
kết quả hoàn toàn cân xứng. Tỉ số trong những số liệu về cuộc bầu cử của người
Malawi (2.1) thấp hơn những tỉ số trong tất cả những cuộc bầu cử đa nguyên but three of the established democracies for
which data are presented in Arend Lijphart’s comprehensive Electoral Systems
and Party Systems, bao trùm trong suốt giai đoạn từ 1954 đến 1990 (1). Tương tự,
bầu cử quốc hội phân bổ theo địa phương năm 1985 ở Zimbabwe có chỉ số ID là
2.5, sự lặp lại với cuộc bầu cử quốc hội năm 1994 ở Nam Phi và Namibia (được tổ
chức bởi hệ thống PR) chỉ ra rằng đa số SMD sẽ có kết quả với tỉ lệ tương đối,
ID vào khoảng 6.7 và 4 với từng quốc gia. (2)
Chỉ số ID của các quốc gia đã diễn ra bầu cử cho chúng
ta biết nhiều hơn về thành phần của quốc hội. Chỉ số ID cao có khả năng cao được
hiểu như sau: 1) Những đảng thiểu số (minority parties) được nhận ít hoặc không
có người đại diện; 2) Những đảng lớn được thêm nhiều hơn số ghế mà họ có được từ
những lá phiếu phổ thông; 3) Các chính phủ với 100% quyền hành pháp are being
catapulted into the office với số phiếu nhỏ hơn 50% phiếu phổ thông; 4) Các
chính phủ dựa trên đa số phiếu bầu nhận quyền lực của đại đa số (Ở Nam Phi,
where the use of a plurality system would have provided the African National
Congress [ANC], nhận được 62% phiếu với 2/3 số ghế trong Quốc hội – đủ thẩm quyền
để viết bản hiến pháp mới mà không gặp bất kì sự cản trở nào).
Trường
hợp cá biệt
Những bằng chứng ở Malawi năm 1994 và ở Zimbabwe năm
1985 (và giả định ở cả Nam Phi và Namibia) dường như có ngụ ý rằng, ở phía Nam
châu Phi, đa số SMD có thể cung cấp “the best of both world” – a proportionally
constituted parliament, song song với những lợi ích tiêu biểu của a
district-based system. Barkan cho rằng “trong các xã hội nông nghiệp… PR không
tạo ra những kết quả bầu cử công bằng hơn hay toàn diện hơn so với bầu cử đa
nguyên dựa trên SMDs” (tr.163). Tuy nhiên, kết quả ở Malawi và Zimbabwe không
được phản chiếu trong nền dân chủ đã được thành lập ở Châu Phi nói chung, hay ở
nam Châu Phi nói riêng. Tóm lại, đó là những trường hợp cá biệt và chúng ta phải
chú ý để không bị chúng đánh lạc hướng.
Tính trung bình, năm quốc gia sử dụng SMD plurality
cho bầu cử dân chủ tại nam châu Phi từ 1956 có chỉ số ID ngang hàng với bầu cử
đa nguyên ở các quốc gia khác trên thế giới (Bảng 1).
BẢNG 1 – TRUNG BÌNH IDs CỦA SMD PLURALITY VÀ BẦU CỬ PR
a. 13
cuộc bầu cử tại Botswana, 1965-1994; Lesotho, 1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991;
Zimbabwe, 1985 (common roll), 1990, 1995.
b. 6
cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994; Nam Phi,
1994, Zimbabwe, 1980.
c. 20
cuộc bầu cử tại Boswana, 1965-1994; Gambia, 1966-1992; Kenya, 1992; Lesotho,
1993; Malawi, 1994; Zambia, 1991; Zimbabwe, 1985-1995.
d. 13
cuộc bầu cử tại Angola, 1992; Benin, 1991; Burkina Faso, 1992; Burundi, 1993;
Cape Verde, 1991; Madagascar, 1993; Mozambique, 1994; Namibia, 1989, 1994;
Niger, 1993, 1995; Nam Phi, 1994; Zimbabwe, 1980.
e. Được
tính từ số liệu của 78 cuộc bầu cử tổ chức theo plurality ở 5 quốc gia: Canada,
1945-1988; Ấn Độ, 1952-1984; New Zealand, 1946-1990; Vương quốc Anh, 1945-1992;
Hợp chúng quốc Hoa Kì, 1946-1994.
f. Được
tính từ số liệu của 212 cuộc bầu cử được tổ chức theo các cách thức PR khác
nhau trên 17 quốc gia: Áo, 1945–1990; Bỉ, 1946–1987; Costa Rica, 1953–1990; Đan
Mạch, 1945–1988; Phần Lan, 1945–1987; Đức, 1945–1987; Iceland, 1946–1987;
Ireland, 1948–1989; Israel, 1949–1988; Italy, 1946–1987; Luxem-bourg, 1945–1989;
Malta, 1947–1987; Netherlands, 1946–1989; Norway, 1945–1989; Bồ Đào Nha, 1975–1989;
Sweden, 1948–1988; Switzerland, 1947–1987.
Ghi chú cách tính: least squares index được phát triển
bởi Michael Gallagher. Đọc “Tính cân bằng, Mất cân bằng và Hệ thống bầu cử”,
Nghiên cứu bầu cử (1991): 22-51. Nguồn: Trên phạm vi châu Phi, những phép tính
của tác giả có được trên cơ sở những dữ liệu tại “The Political Originas and
Consequences of Electoral Systems in Africa: A Preliminary Analysis” của
Shaheen Mozaffar (paper được trình bày tại hội nghị “So sánh những cuộc bầu cử
dân chủ” (Comparative Democratic Elections), trường phái Kenedy về Chính phủ, Đại
học Harvard, 5/1995); với các nền dân chủ đã được thành lập, các phép tính dựa
trên số liệu được trình bày tại Hệ thống bầu cử và Hệ thống Đảng (Electoral
Systems and Party Systems) của Arend Lijphart (New York: University Press,
1994), và được bổ sung bởi Reynolds.
Các kết quả có phần cân đối ở phạm vi châu Phi song lại
hơi thiếu cân đối so với các nền dân chủ đã được thiết lập – Britain and the
inheritors of her “first-past-the-post” electoral system. Không những thế, những
đại biểu của bầu cử PR chỉ ra rằng, bất chấp đa số chỉ số IDs tại Malawi và
Zimbabwe ở mức thấp, when it comes to trans-lating votes into seats, PR is not
just marginally superior to SMD plurality but substantially so. Bằng chứng trên
khắp châu Phi cho thấy việc sử dụng 1 hệ thống bầu cử dựa trên SMDs không đảm bảo
được tình trạng cân đối của kết quả bầu cử. Điều đó đúng cả với các xã hội nông
nghiệp, nơi mà những mô hình bầu cử được tập trung theo khu vực địa lý. Nó cũng
kéo theo việc nếu tính cân đối là một đặc trưng thiết yếu cho nền dân chủ liên
hiệp (consociational democracy), plurality không được tin cậy để đảm bảo sự cân
đối đó.
Ngay cả khi bầu cử phổ thông (plurality elections) ở
những nền dân chủ non trẻ đưa đến những kết quả có vẻ cân đối trên bảng tổng kết,
nó vẫn sẽ mang lại mối nguy cơ đe dọa đến sự tập trung dân chủ. Thứ nhất, kinh
nghiệm ở Nam Phi chứng minh rằng tính bao hàm/ thống nhất trong phạm vi (the
inclusion within) quốc hội của những đảng thiểu số nhỏ đóng vai trò ổn định thiết
yếu trong những năm đầu của sự dân chủ hóa trong từng xã hội đơn lẻ. Rõ ràng sự
xuất hiện của The Afrikaner Freedom Front (FF), Pan-Africanist Congress (PAC),
và Democracy Party (DP) trong quốc hội Nam Phi phi chủng tộc đầu tiên đã đem đến
một bầu không khí hòa giải. Như tôi nhấn mạnh trong “Constitutional Engineering
in Southern Africa”, giới hạn này của tính tập trung chính trị không thể đạt được
trong các cuộc bầu cử vận hành vào tháng 4 năm 1994 nếu chúng được vận hành bởi
hệ thống đa nguyên thay vì hệ thống PR.
Thứ hai, nếu xét trên sự gia tăng của hiệu quả kinh tế
lâu dài và tính chuyển đổi giai cấp, cùng với sự phai mờ của tình trạng phân
chia sắc tộc, vùng miền, như hầu hết mọi người hi vọng, kết quả của sự thống nhất
những vùng lân cận và sự suy giảm trong tầm quan trọng chính trị của những ràng
buộc cơ bản sẽ đem đến sự suy tàn trong cuộc bầu cử theo khu vực địa lí. Nhược
điểm của bầu cử theo từng khối khu vực sẽ làm phát sinh tất cả những sự thất
thường của số đông mà nhiều xã hội thống nhất như Anh và Hoa Kì đã phải hứng chịu.
Những sự thất thường đó bao gồm việc loại trừ hỗ trợ từ bên thứ ba dành cho người
đại diện và sự thắng thế của đa số quốc hội bởi các đảng có số phiếu ít hơn số
phiếu của phe đối lập. Trong khi những nền dân chủ ổn định hơn đã được thiết lập
ở phương Tây có thể chấp nhận những biểu hiện dị thường, thì nền dân chủ ấy đã
có thể chứng tỏ sự dàn xếp ở châu Phi, nơi mà nền dân chủ sẽ đến trong nhiều
năm tới lại dễ sụp đổ vô cùng. Nếu Malawian Congress Party (MCP) của tổng thống Hastings Kazumu Banda thắng a
parliamentary majority vào năm 1994 chỉ với 34% phiếu bầu, đối lập với 46% phiếu
của The United Democratic Front (UDF), chúng ta chỉ có thể hình dung được rằng
nguy cơ một cuộc xung đột nội bộ sắp nổ ra. Suy đoán có vẻ bừa bãi này không phải
là không có căn cứ lịch sử. In the whites-only cuộc tổng tuyển cử tại Nam Phi
vào năm 1948, mặc dù chỉ có 42% phiếu bầu, Liên minh dân tộc D. F. Malan và
Afrikaner vẫn lên nắm giữ quyền lực với 79 trên tổng số 150 ghế trong quốc hội.
Jan Smut’s United- Labour chiếm 52% phiếu nhưng chỉ giữ 71 ghế trong quốc hội.
Có lẽ điều quan trọng nhất là việc sử dụng plurality ở
miền nam Châu Phi đã gây cản trở cho hệ thống đảng đến một mức độ mà ở đó sự
luân phiên của các đảng trong chính phủ và các bên đối lập không được nhìn nhận
như một sự kiện tự nhiên. Điều đó đúng ngay cả khi mức mất cân đối không cao.
Như Bảng 2 minh họa, những cuộc cầu cử được tổ chức bởi SMD plurality ở miền
Nam châu Phi đã cung cấp một lượng ghế cạnh tranh ít ỏi – nhân tố quyết định của
hệ thống Westminster của chính phủ.
Toàn bộ 5 cuộc bầu cử phổ thông ở miền Nam châu Phi được
mô tả ở Bảng 2 biểu lộ nhân tố classic của a de facto one-party state, mà trong đó đảng thống trị bị cô lập khỏi những
yêu cầu về bầu cử (Electoral challenges). Ở Malawi, Zambia và Zimbabwe, những đảng
lớn nhất thắng cử các ghế với một lượng lớn phiếu bầu, khiến cho họ trở nên bất
khả xâm phạm. Marginal seats are those won with a margin of victory (whether a
plurality or a major-ity) of less than 10 percent of the valid vote. Những điều
đó được xem xét là “battleground seats” – cách thức họ đi đến quyết định đảng
nào sẽ đứng ra thành lập chính phủ. Trong những cuộc bầu cử của 5 nền dân chủ,
có khoảng 1/5 đến 1/3 số ghế được coi là ghế biên. Tuy nhiên, ở miền nam châu
Phi, những ghế cạnh tranh chưa bao giờ lên tới quá một phần nhỏ của hội đồng lập
pháp. Ở Zimbabwe, một ứng cử viên thuộc một đảng đã từng cầm quyền sẽ không giữ
được ghế nào. Hậu quả là việc sử dụng hệ thống đa nguyên trong những xã hội
không thống nhất gây cản trở đến một số lượng ghế thắng cử, việc tạo ra một môi
trường trong đó có một sự chấn động chính trị có thể lay chuyển cả một mô hình
của party-vote concentration.
BẢNG 2 – GHẾ BIÊN TRONG SMD PLURALITY GẦN ĐÂY
Chú thích: Ghế biên được xác định là số ghế thắng cử
with a margin of victory of less than 10 percent of the total valid vote. Figures
are for lower houses of parliament only.
Phát hiện này là một mối đe dọa lớn đối với những trường
hợp đa nguyên (plurality) ở châu Phi, ít nhất là đối với những mệnh lệnh theo số
đông dựa trên sự nhận thức rằng quyền lực có thể thay đổi hands từ cuộc bầu cử
này sang cuộc bầu cử khác. Nếu plurality dẫn đến a de facto one-party state, sẽ
không có một ưu đãi nào cho bên thua cuộc để duy trì một đảng đối lập trung
thành. In the deeply divided societies
of Africa, this poses the greatest possible threat to democracy in its initial
stages. In contrast, PR systems may display sensitivity to evolving vote
patterns by facilitating shifting government coalitions or forcing a
single-party cabinet to include other parties when the ruling party’s support falls
below an absolute majority of the population.
Giải
quyết những vấn đề của PR
Như Barkan nhấn
mạnh, trách nhiệm giải trình và sự tương tác giữa những người đại diện và những
cử tri là điều cốt yếu cho bất kì một nền dân chủ hoạt động một cách chính đáng
nào. Và sự thật là the type of national, large-district PR sử dụng ở Nam Phi và
Namibia đã làm suy yếu mối quan hệ giữa những thành phần ưu tú và thành phần
kém ưu tú, làm gia tăng lo ngại về trạng thái “suspended state”… mất kết nối với
nhân dân (tr.137). Thành lập hệ thống bầu cử dựa trên SMDs có lẽ không phải lúc
nào cũng là cách thức tốt nhất để vượt qua những chướng ngại vật để hoàn thành
vertical dimension của nền dân chủ. First, the overwhelming regional
concentration of voting patterns through-out Africa gives rise to SMDs that are
little more than pocket boroughs of this or that party. Một giả thuyết mang
tính trực giác cho rằng, các ghế trong bầu cử càng ít cạnh tranh bao nhiêu thì
chất lượng của các ứng cử viên lại càng thấp bấy nhiêu, do đó MP được đề cử sẽ
có càng ít trách nhiệm hơn đối với nhu cầu/ đề nghị của các ứng viên. Hội chứng
“Con chó vàng” (Tức là những người bầu cử
thà chọn một con chó vàng còn hơn là chọn một ai đó thuộc về đảng đối lập) được
nhấn mạnh trong khắp các nền dân chủ truyền thống sử dụng SMD plurality, đặc biệt
là Hoa Kì (nơi nhiệm kì được xác lập) và Vương quốc Anh.
Thứ hai, đại diện các cử tri thích hợp không đơn giản
là vấn đề ủng hộ lợi ích của 50, 60 hay thậm chí cả 80% công chúng; nó còn là vấn
đề về việc cho phép những người ủng hộ kể cả đảng đa số và đảng thiểu số giữa
những khu vực nhất định để có được quan điểm mà họ đưa ra trong quốc hội. Ở
châu Âu, SMD plurality đã nhấn mạnh regional fiefdom của đảng cầm quyền đến mức
25% người bầu cử ở phía đông tỉnh Zambia (những người không ủng hộ Đảng quốc
gia độc lập (UNIP)), 15% người ở khu vực phía Bắc Malawi (những người bỏ phiếu
chống lại Liên minh dân chủ (AFORD)), và hầu như toàn bộ phiếu đối lập của
Zimbabwe (dao động ở mức 19% trong 2 năm 1990 và 1995) bị ngăn chặn lên tiếng về
công việc lập pháp. Những nhà dự thảo hiến pháp, người tìm kiếm một nền dân chủ
đại diện năng động và toàn diện, cần phải tìm một nơi ở giữa sự đại diện vô
trách nhiệm từ xa biểu thị đặc điểm của người theo chủ nghĩa dân tộc PR và loại
trừ sự đại diện đầy tự mãn được cung cấp bởi các MPs chọn từ “safe” SMDs.
Trong biên bản chính thức lưu hành trong Quốc hội Nam
Phi nổi bật lên cả hai vấn đề: Sự không hài lòng dành cho large-district list
PR và những cách thức mà hệ thống PR có thể được điều chỉnh để cung cấp đại diện
có trách nhiệm hơn. Ở Nam Phi, có hai sự lựa chọn được đặt ra. Sự lựa chọn thứ
nhất là giới thiệu SMDs để đề xuất một sự cân bằng cho Quốc hội (có thể là một
nửa), phần còn lại của các nghị sĩ sẽ được đề cử dựa trên danh sách khu vực.
Toàn bộ điều này gợi nhớ đến hệ thống German, Quốc hội sẽ phản ánh tỉ lệ tương
xứng tương đối giữa số phiếu bầu và số ghế thắng cử, nhưng sẽ chỉ có một người
làm đại diện cho mỗi quận/ huyện.
Mặc dù hệ thống thành viên hỗn hợp (mixed-member) này
nghe có vẻ hấp dẫn, song nó lại chứa 2 thiếu sót chính. Thứ nhất, because of
plurality’s tendency to exaggerate re-gional fiefdoms, khả năng cao rằng một số
đảng nhất định sẽ chiếm toàn bộ số ghế SMD, để lại những nghị sĩ đảng thiểu số
được đề cử từ “top-up” pool của những thành viên đến từ các danh sách khu vực.
Ví dụ, trên khắp South Africa’s Orange Free State, các cử tri thành thị và các
cử tri nông thôn sẽ được thay mặt lần duy nhất bởi các thành viên ANC, trong
khi các đại diện thiểu số lại được chọn từ các danh sách đảng riêng lẻ nhiều
hơn. Điều này dẫn đến vấn đề thứ hai của hệ thống thành viên hỗn hợp: sự phân
rã thành 2 nhóm nghị sĩ, nhóm đầu tiên được chọn ra từ các quận/ huyện có mối
liên kết với các đảng địa phương, những người bầu cử địa phương và trách nhiệm
dành cho lợi ích của các cử tri, và nhóm thứ hai được chọn từ các danh sách, do
đó trách nhiệm chủ yếu dành cho người đứng đầu đảng trong tổng hành dinh quốc
gia.
Sự lựa chọn thứ hai là giảm thiểu quy mô của những quận
đa thành viên (MMDs) (multimember districts) trong danh sách PR và cung cấp cho
những người bầu cử những lựa chọn phức tạp hơn trên từng lá phiếu. Trong cuộc bỏ
phiếu cho New South Africa, tôi tán thành cách thức làm giống với hệ thống của
Phần Lan. Trong số 300 thành viên của Quốc hội Nam Phi sẽ được chọn ra từ MMDs
khoảng 5-12 người phù hợp, và những người bầu cử có thể chọn giữa những ứng
viên cũng như giữa các đảng, Đảng thắng cử sẽ nhận được số ghế tương ứng với số
phiếu họ được nhận, nhưng những ghế đó sẽ được nhận bởi các ứng viên cá nhân nổi
tiếng nhất của các đảng. Để đảm bảo tính cân đối của tổng thể, 100 ghế sẽ được dành
ra để “top up” sự đóng góp của mỗi bên trong số ghế quốc hội; tuy nhiên, để giải
quyết vấn đề của sự tách biệt, những thành viên bổ sung sẽ được chọn ra từ những
ứng viên thua cuộc với khả năng thành công cao nhất của mỗi đảng.
Hệ thống này không hoàn hảo. Tuy nhiên nó vẫn duy trì
được tính cân đối trong quốc hội và tính đơn giản cho những người đi bầu cử, đồng
thời nó gia tăng trách nhiệm địa lí và sự đa dạng của các đại diện trong khu vực.
Một lợi ích khác đó là phiếu thiểu số không hề “lãng phí”, chúng ở trong SMD
plurality; chúng có thể khuyến khích những đảng thiểu số trong khu vực, nơi mà
một nhóm dân tộc hoặc một nhóm ngôn ngữ chiếm ưu thế. Đại diện thiểu số và các
tổ chức đảng trong khu vực đặc biệt quan trọng, nhất là khi quyền lực của tỉnh
lị được củng cố thông qua chế độ liên bang, cũng như các dân tộc thiểu số có ít
khả năng tin tưởng vào một sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích của họ.
Joe Barkan và tôi cùng đồng ý với nhau một số vấn đề
quan trọng. Chúng tôi đều thống nhất lựa chọn một hệ thống bầu cử bao gồm sự
cân nhắc những kết quả mà chúng tôi cố gắng dự đoán bằng cách đánh giá những dữ
kiện có được từ các cuộc bầu cử trước đó. Chúng tôi cùng tán thành việc không
nên tìm kiếm một hệ thống bầu cử “hoàn hảo”, cũng không nên tuyên truyền về một
phương pháp được xem như là một hệ thống tối ưu duy nhất trong bất kì hoàn cảnh
nào. Thay vào đó, các quy tắc bầu cử phải được đáp ứng những nhu cầu cần thiết
và mong muốn của một xã hội riêng lẻ. Không những vậy, chúng tôi cũng đồng ý rằng
sự bao hàm lợi ích của cả thiểu số và đa số, và do đó còn có một vài mức độ nhất
định của tính tương xứng trong bầu cử, là một quy phạm (normative good) trong
những nền dân chủ non trẻ được phân chia dựa trên dân tộc và khu vực.
Tuy nhiên, tôi cũng đưa ra tranh luận: những kết quả của
các cuộc bầu cử SMD-plurality trên khắp châu Phi và phần còn lại của thế giới
chỉ ra rằng hệ thống này không đáng tin cậy để có thể đem lại một sự phân phối
các ghế trong quốc hội mà lại phản ánh rõ nét sự phân phối của các lá phiếu phổ
thông, và vì thế nó sẽ không tạo điều kiện thuận tiện cho một hội đồng lập pháp
đa dạng và toàn diện. Hơn nữa, tiềm lực của số đông tạo nên những kết quả bất
cân xứng và legislative anomalies khiến chúng đặc biệt không phù hợp với những
nền dân chủ mới còn non yếu ở châu Phi. Barkan lập luận rằng các quy tắc bầu cử
có thể được viết ra để chỉ dẫn cho các huyện đồng nhất về văn hóa (`a la the
U.S. Justice Department’s guidelines for racially representative districts),
nhưng tôi cho rằng sự sắp xếp gian lận mang tính pháp lý (legal gerrymanders) sẽ
châm ngòi cho tình trạng căng thẳng và những cuộc tranh cãi phát sinh trong
lòng Hoa Kì.
Chắc chắn rằng, danh sách những hệ thống PR có hiệu lực
đang hiện hành ở châu Phi bộc lộ những thiếu hụt về tính hợp pháp và trách nhiệm
giải trình. But there is no need to throw the baby out with the bathwater. Với
một chút trí tưởng tượng và sự sáng tạo, có thể sử dụng hệ thống PR ở châu Phi
để cung cấp một mối liên kết vững chắc giữa những đại diện và cử tri, từ đó
tăng cường triển vọng củng cố dân chủ. Nếu Nam Phi, bằng việc đưa ra hiến pháp
mới, tìm ra được cách để lựa chọn không chỉ một Quốc hội có tính cân đối mà còn
là một quốc hội có trách nhiệm và đáp ứng được sự đại diện cho tất cả mọi người,
thì Nam Phi có thể tiếp tục cung cấp một hướng đi mới cho phần còn lại của châu
Phi.
CHÚ THÍCH
Bài essay này dựa trên nghiên cứu được hỗ trợ bởi Quỹ
Khoa học Quốc gia Hoa Kì (National Science Foundation of the United States
(grant SBR-9321864) và The Institute on Global Conflict and Cooperation.
1. Arend
Lijphart, Hệ thống bầu cử và Hệ thống đảng (New York: Oxford University Press,
1994)
2. Theo
Andrew Reynolds, “Re-running những cuộc cầu cử quốc hội tại Nam Phi và Malawian
năm 1994 theo công thức hệ thống bầu cử luân phiên”, Tymothy Sisk và Andrew
Reynolds, eds, Bầu cử và giải quyết xung đột ở châu Phi.
(Washington, D.C.: U.S. Institute of
Peace Press, 1998). Con số 4.0 đại diện cho Namibia hơi thấp so với tính toán của
Barkan về plurality trên cơ sở 95 huyện. Đánh giá của tôi dựa trên sự tổng hợp
của 95 huyện để cung cấp 72 SMDs với kích cỡ tương đương. Những phép tính trên cho phép The South West
People’s Organisation (SWAPO) có được 55 ghế và The Democratic Turnhalle
Alliance (DTA) có được 17 ghế. (Tôi vô cùng biết ơn Joel Barkan vì đã chia sẻ dữ
liệu ấy cho tôi).
Andrew Reynolds, Bầu cử cho một Nam
Phi mới (Cape Town: Maskew Miller Longman, 1993), 66–103.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét