Chương
10: ƯU THẾ CỦA NGOẠI LỆ
Ken Gladdish
Ken Gladdish (mất năm 2003) là giảng viên
ngành so sánh chính trị châu Âu của Đại học Reading ở Anh, nơi ông là trưởng
khoa chính trị học trong vòng bốn năm đến lúc ông nghỉ hưu vào năm 1994. Ông đã
viết rất nhiều về Hà Lan, cũng như Bồ Đào Nha, chủ yếu về vấn đề tính đại diện,
tính dân tộc, và khởi nguyên của khoa học chính trị. Bài viết này xuất hiện lần
đầu trong số ra tháng Giêng năm 1993 của Tạp
chí Dân chủ (Journal Of Democracy).
Khoảng ba thế hệ trước, nhà chính trị học
nổi tiếng người Anh là Sir Henry Maine đã bàn đến hiện tượng mà ông gọi là “hình
thức cực đoan của chính phủ đại chúng được gọi là nền dân chủ”. Ông viết không
phải từ vị thế thù địch mà từ vị thế của người điều tra về sự phổ biến của hiện
tượng này, đối với ông ấy như “đã trỗi dậy từ việc khéo léo tạo ra giới hạn cho
xung lực của đám đông chứ không phải kiềm chế họ”[1]. Luận điểm như vậy, trong
ngữ cảnh ngày nay hiện lên với dáng vẻ gia trưởng đến khác thường, có thể được minh
oan bằng cách giải thích từ khóa “xung lực”. Rất ít chính phủ đương đại sẽ coi “xung
lực” ấy như một vấn đề nhạy cảm hoặc thiết yếu để hồi đáp trong mỗi thời khắc
chuyển biến của dư luận ở giữa những cuộc truy vấn sẽ xác lập và hợp thức hóa một
giai đoạn của những kẻ cầm quyền mới thông qua việc giải quyết quá trình cạnh
tranh của những chính trị gia. Nhưng nghi vấn về cách thức tiến hành những cuộc
đua như vậy, về bản chất là phương pháp để chuyển lá phiếu thành vị thế chính
trị, vẫn luôn là đề tài cho những cuộc tranh cãi bất tận ngày hôm nay.
Chứng tích của truy vấn kinh điển này hiện
diện xuyên suốt trong lịch sử chính trị, từ những trang sử của những thể chế
dân chủ lâu đời ở Pháp và Anh, đến các nền dân chủ mới nổi ở Đông Âu và Trung
Âu, hoặc đang rất sống động trong những nỗ lực xây dựng nền chính trị đa nguyên
ở những quốc gia với ngày độc lập đến ngay sau sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân
châu Âu năm 1945.
Trong cuộc tranh luận gần đây trên Tạp chí Dân chủ giữa Arend Lijphart, Guy
Lardeyret, và Quentin L. Quade, ngay sau bài viết khởi sự vấn đề của Lijphart, họ
đã xác lập hai tư tưởng đối lập về hình thức bầu cử[2]. Lijphart bảo vệ lý thuyết
nghiêm ngặt của ông về hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ. Hai luận điểm phê
bình của ông đã chỉ ra bất trắc tiềm tàng trong những toan tính không thể hòa
giải trong xu hướng hỗ trợ chính trị phe đảng và hình thức bầu cử đa số tương đối.
Tuy nhiên, những lập luận này của người khởi sự vấn đề, vẫn mang bản chất của một
ngụ ý một tuyệt đối không mang tính đối thoại, bởi tất thảy đều tựa vào một giả
định cho rằng một hệ thống bầu cử cụ thể có thể trở nên ưu việt đến độ vượt qua
mọi giải pháp thay thế khác. Thực chất, vấn đề này đã được truy vấn trong một
bài viết xuất hiện từ trước trên Tạp chí
Dân chủ, của tác giả Larry Diamond. Trong bài viết “Ba nghịch lý của nền dân
chủ”, Diamond đã gây sự chú ý bởi luận điểm “tính đại diện đối đầu với tính thống
trị” và cho rằng: “Mỗi quốc gia phải tìm được con đường riêng để giải quyết mâu
thuẫn mang tính phổ quát này.”[3]
Mục đích của tôi là mở rộng cuộc tranh luận
rất nghiêm túc này, và tôi sẽ làm vậy theo ba cách: thứ nhất, đặt câu hỏi về bất
trắc đã dẫn đến những giải pháp bầu cử thay thế đã được trình bày trong các bài
viết trước; thứ hai, chống lại thao tác tách rời một cách máy móc hệ thống bầu
cử khỏi chỉnh thể là toàn bộ hệ thống chính trị; và thứ ba, xem xét một số ví dụ
có thể làm rõ những lựa chọn tinh tế hơn để nhận diện giá trị một cách chính
xác chứ không dựa vào những truyền thống dễ dàng được thông qua.
Phạm
vi của công thức
Đầu tiên, toàn bộ những lựa chọn khả dĩ hoàn
toàn không nằm gọn trong ranh giới của hệ thống đầu phiếu đa số tương đối hay hệ
thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (PR). Có một loạt các cấu trúc chính trị rất phức
tạp khiến cho tập hợp lựa chọn thể chế của từng quốc gia đều mang tính tự thân
(sui generis)[4].
Ví dụ, khi chúng ta quan sát một hệ thống vốn không đơn thuần tựa trên hình thức
bầu cử đa số tương đối (và phải lưu ý rằng các hệ thống đầu phiếu đa số tương đối
ngay từ đầu đã khác nhau ở những điểm rất quan trọng), chúng ta sẽ phải đối diện
với những trường hợp rất đặc thù như hệ thống thành viên bổ sung (additional member
system) của nền chính trị Đức, hình thức bầu cử sử dụng lá phiếu thay thế (alternative
voting system) ở Úc, và hình thức bầu cử sử dụng lá phiếu chuyển nhượng đơn
(single transferable voting system) ở Ireland.[5] Hơn nữa, ngay cả khi vấn đề
tỷ lệ cân xứng giữa số phiếu và số ghế được chấp nhận như một mục tiêu, thì những
trường hợp thực tiễn vẫn rất khác nhau, từ nền chính trị theo khu vực của Bồ
Đào Nha, với một loạt biến thể tùy theo quy mô của khu vực bầu cử, đến hình thức
bầu cử PR được áp dụng trên toàn quốc ở Hà Lan. Do đó, có một nguy cơ thực sự luôn
tiềm tàng trong việc thiết lập một cuộc tranh luận mà ngay từ đầu đã giản lược
rất nhiều những khái niệm căn bản. Nhưng đó chỉ là một phần của vấn đề.
Lijphart chắc chắn xứng đáng được tuyên dương bởi nghiên cứu rộng lớn mà ông đã
thực hiện với những phép đo khách quan dành cho kết quả đặc thù của những hệ thống
đặc thù. Tuy nhiên, từ nỗ lực khảo sát để đi đến quyết định chắc chắn về câu trả
lời cuối cùng giữa hai giải pháp bầu cử rất tổng quát lại là một chuyện hoàn
toàn khác.
Thách thức này hiện rõ trong nỗ lực giải
thích và chứng minh lựa chọn của mình từ cả ba nhà hùng biện trong chuỗi tranh
luận này. Có hai điểm trục trặc ở đây dường như không thể hòa giải. Vấn đề đầu
tiên – và cũng là vấn đề mà mỗi nhà hùng biện đều thừa nhận –là không thể tách rời
ảnh hưởng của hệ thống bầu cử khỏi những xung lực khác làm nên đặc thù chỉnh thể
của một thể chế theo thời gian. Thứ hai là hệ thống bầu cử cũng không thể đơn
giản được lựa chọn theo kiểu người ta mở ngăn kéo và chọn công thức nấu ăn. Hiện
thực của mỗi quốc gia đương đại đều phụ thuộc vào hoàn cảnh và phản ánh cả một
lịch sử trong mọi biểu hiện của nó, cụ thể hơn là mọi hệ quả của các mô hình cụ
thể trong quá trình vận động chính trị.
Ở Hà Lan, trường hợp mà những nghiên cứu của
Lijphart được chấp nhận rộng rãi, hình thức bầu cử PR được áp dụng trên toàn quốc
bởi cả trăm lý do. Trong đó, lý do quan trọng nhất là nhận thức của người dân về
việc hệ thống đầu phiếu đa số tương đối không thể tạo ra cho họ kết quả thống
nhất, do tính chất phân mảnh của quá trình cạnh tranh chính trị ở Hà Lan khởi sự
từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ này. Tất nhiên, chúng ta cũng không thể vì thế mà
dứt khoát kết luận rằng lựa chọn tối hậu luôn do hoàn cảnh quyết định, bởi vì đến
ngày nay tranh luận vẫn tiếp diễn ở Hà Lan về tính hiệu quả và nhu cầu đối với
hệ thống PR trên toàn quốc. Nhưng trường hợp này vẫn cho thấy thấy khái niệm về sự lựa chọn không phụ thuộc vào hoàn cảnh là hoàn
toàn phi thực tế.
Hơn nữa, ngay cả khi người ta chứng minh
được (mà những bằng chứng trước mắt của chuỗi tranh luận này còn lâu mới làm được
điều đó) rằng hệ thống PR hoàn toàn ưu việt hơn hệ thống đầu phiếu đa số tương
đối, hoặc ngược lại, thì ý định nhấn mạnh rằng phương pháp được chứng thực về
khả năng phải được áp dụng trong mọi trường hợp vẫn là chuyện viễn tưởng.
Tất nhiên, người ta vẫn có thể khám phá,
như một nỗ lực nghiên cứu thực tiễn trong ngành chính trị so sánh, mức độ mà ở
đó các dạng hệ thống bầu cử có thể đóng một vai trò quan trọng đối với hiệu lực
các thể chế chính trị khác nhau. Nếu nghiên cứu tổng quát này có tính thuyết phục,
thì chắc chắn công trình này sẽ trở thành một tài liệu tham khảo bắt buộc đối với
mọi chính trị gia và những người phải quyết định “quy tắc” chính xác của “trò
chơi” bầu cử trong trường hợp của quốc gia. Nhưng viễn cảnh này cũng chỉ đơn
thuần nhấn mạnh lại rằng mỗi chính thể vẫn là độc nhất, và do đó phải tự mình
tìm ra cấu trúc riêng của mình.
Ở nước Anh ngày hôm nay, đã có những bước
tiến mới trong chuỗi tranh luận về việc duy trì hệ thống đầu phiếu đa số tương
đối dựa trên đơn vị bầu cử một thành viên. Nhiều luồng tư tưởng thể hiện rõ
quan điểm thuần ủng hộ hoặc phản đối, nhưng mối quan tâm chủ đạo vẫn là liệu hệ
thống đầu phiếu đa số tương đối “đơn giản” vẫn có thể tạo ra chu kỳ luân phiên cầm
quyền hợp lý của các đảng phái trong chính phủ. Nếu Đảng Bảo thủ gần đây không
giành được bốn chiến thắng liên tiếp, và tạo nên cơ sở của nỗi ưu tư đặc biệt
này, thì cuộc tranh luận đã không diễn ra sôi nổi như vậy trong đời sống chính
trị của nước Anh. Vậy nên, mối quan tâm hiện nay của dư luận nước Anh hướng đến
một chuyển động đặc thù, không chỉ khác thường mà còn ngoại lệ, đã tạo nên kết
quả của những cuộc bầu cử gần đây. Trọng điểm của vấn đề là không có sự đồng
thuận dành cho những giải pháp khả dĩ thay thế được hệ thống đầu phiếu đa số
tương đối trong truyền thống, bởi mỗi trường hợp chuyển đổi hình thức bầu cử
cũng sẽ mang lại những ảnh hưởng rộng lớn đến cả cục diện chính trị của nhân
dân và thể chế[6].
Có vẻ như, trong cái nhìn của Thượng đế, có một giải pháp bầu cử “hoàn hảo” cho
nước Anh. Nhưng chúng tôi không biết nó là gì, và ngay cả khi chúng tôi biết, cái
giá để đạt được giải pháp tối hậu này lại là cái giá mà các tập thể chính trị
nòng cốt ở Anh không thể trả được.
Điểm thứ hai, cũng liên quan đến cái giá
phải trả, là một tham số không thể bỏ qua khi chúng ta xét đến lý do tại sao những
chính trị gia hoặc có hoặc không chấp nhận những thỏa thuận cụ thể. Bởi vì có một
cơ chế lưỡng phân chính trị mang tính nền tảng hiện diện xuyên suốt mọi cuộc thảo
luận về cách thức lá phiếu quyết định việc phân phối ghế trong cơ quan lập
pháp: trong các thể chế dựa trên chủ quyền nhân dân, người dân vừa cần được đại
diện, vừa cần được chi phối. Trong mỗi nền dân chủ, mối quan hệ hợp lý giữa hai
nhu cầu này phải được tái cấu trúc; rõ ràng là giải pháp cho chu trình tái cấu
trúc này ở các quốc gia sẽ khác nhau đáng kể.
Tuy nhiên, có một nguyên tắc trung tâm về
khác biệt căn bản giữa hệ thống đầu phiếu đa số tương đối và hệ thống đầu phiếu
đại diện tỷ lệ mà chúng ta luôn có thể dứt khoát khẳng định: hệ thống đầu phiếu
đa số tương đối có xu hướng hạn chế đáng kể tính đại diện của thể chế bằng việc
duy trì cơ chế lưỡng đảng, tạo điều kiện để dẫn đến chính phủ một đảng cầm quyền,
còn hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ, tùy thuộc vào mọi giới hạn có thể được tạo
ra, xác nhận khả năng đại diện pháp lý cho tất cả mọi ứng cử viên cụ thể. Tựu
trung, hệ thống đầu phiếu đa số tương đối sẽ hạn chế khả năng đại diện trong bức
tranh toàn cảnh của thể chế; còn hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ thúc đẩy khả
năng này.
Trường
hợp Hà Lan, Pháp, và Đức
Phần đề xuất nghi vấn về nền tảng của cuộc
tranh luận vẫn còn tiếp diễn đến đây là kết thúc, bây giờ tôi sẽ cố gắng chứng
minh tầm quan trọng của những hoàn cảnh cụ thể chứ không dựa vào khả năng thuyết
phục của những lý thuyết tổng quát. Chúng ta hãy bắt đầu với trường hợp Hà Lan
mà tôi đã đề cập ở trên. Ngay khi quốc gia này bắt đầu áp dụng phổ thông đầu
phiếu, Hà Lan thay thế hệ thống bầu cử bằng một hệ thống PR được áp dụng trên
toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thay đổi này là xu hướng của quá
trình vận động chính trị, nghĩa là cuộc cạnh tranh cho những chiếc ghế một
thành viên đã trở nên không thể kiểm soát được[7]. Vào năm 1914, năm nhóm
chính trị nòng cốt vốn đang tranh luận ngày càng căng thẳng trên cơ sở quốc
gia, đã bất ngờ xây dựng một liên minh để huy động đa số cử tri, bởi chỉ một trong
năm nhóm này không thể giải quyết vấn đề khả năng đại diện nguyện vọng của nhân
dân. Vậy nên, kịch bản tất yếu là họ phải thông qua một số hình thức bầu cử
khác cho cuộc cạnh tranh cấp quốc gia.
Lựa chọn áp dụng một công thức bầu cử PR
trên toàn quốc dựa trên số liệu thực chứng về quyền lực của những đảng quá mạnh,
với cái giá là liên kết trực tiếp giữa cử tri và đại diện. Cái giá này không hề
nhỏ, chuỗi tranh luận chính trị vẫn đang tiếp diễn ở Hà Lan về nhu cầu giải quyết
rốt ráo vấn đề liên kết, vốn được khởi sự một cách quyết liệt từ nửa sau thập
niên 1960, có thể chứng minh sự thực này. Dưới một hệ thống bầu cử PR áp dụng
trên toàn quốc, các nghị sĩ người Hà Lan hoàn toàn không có người ủy nhiệm và
các cử tri Hà Lan cũng không có người đại diện địa phương trong cơ quan lập
pháp. Theo như một số nhà bình luận đã giải thích, hiện trạng này đã dẫn đến hậu
quả nghiêm trọng đối với việc thực hiện các chính sách của quốc gia[8].
Còn có một cái giá khác nữa là cơ chế xác
nhận tiềm lực của một đảng phái không hề có giới hạn tối thiểu, dẫn đến kết quả
là một cơ quan lập pháp phân mảnh đến độ mà chính phủ gần như mạo danh[9], được thành lập sau một sự
trì hoãn đáng kể và hoàn toàn không phản ánh nguyện vọng ban đầu của cử tri. Nhưng
vì một số lý do đặc thù, sự bất thường như vậy lại dường như không gây thiệt hại
lớn cho tính liên tục của chính phủ[10]. Nhưng lý do đặc thù dẫn
đến hiện tượng như vậy hoàn toàn dựa vào đời sống chính trị thực tiễn và cả – tôi phải dùng thuật ngữ này với sự can
đảm – văn hóa của nước Hà Lan. Đối với những nền chính trị khác, quá trình
thành lập nội các lâu đến bất thường như vậy, cùng với sự thành lập một chính
phủ mà người dân không ngờ đến trong cơn đau của một quốc gia bởi những thủ thuật
của các nhà lãnh đạo đảng phải kiêm luôn nhiệm vụ của nữ hộ sinh giữa cao trào
của các cuộc bầu cử, hoàn toàn có thể gây ra sự xáo trộn và bất mãn trên diện rộng.
Đến với trường hợp của nước Pháp vốn đã được
thảo luận rất nhiều, chúng ta tiếp tục nhìn thấy sự hiện diện của những trục trặc
khác. Mặc dù việc phân loại cho chính xác hệ thống bầu cử kế tiếp ở Pháp đã trở
thành một chuyên đề hàn lâm trong chính trị học, rõ ràng dưới nền Đệ ngũ Cộng
hòa, các ghế trong cơ quan lập pháp được xác định bởi lá phiếu trong lần bầu cử
thứ hai của hệ thống bầu cử một thành viên[11]. Điểm dừng của mọi lời đồn
đoán là khi hình thức bầu cử PR chính thức được áp dụng trên toàn nước Pháp
trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1986. John Frears cho rằng chuyển biến này “đã tạo
ra một cơn bão từ giới tinh hoa chính trị, sự thờ ơ từ công chúng, và những cam
kết từ chính phủ mới để thoát khỏi chuyện này một lần nữa”[12]. Trong bối cảnh đó, Roy
Pierce và Thomas Rochon cho rằng sự kiện này “được giải thích rộng rãi như một
động thái nhằm ngăn chặn thảm họa bầu cử gây ra của đảng Xã hội Pháp, trong viễn
cảnh hai lực lượng cực hữu của nền chính trị Pháp cùng giành được phần lớn số
ghế trong Quốc hội”[13].
Trong sự kiện này, quả thực lực lượng cánh
hữu đã đảm bảo được vị thế trong các cơ quan lập pháp. Đảng Xã hội đã không bị đánh
bại, mặc dù họ bị mất một phần tư số ghế. Tuy nhiên, diễn biến khiến dư luận
chú ý nhất là việc đảng Mặt trận Quốc gia của Jean–Marie Le Pen đã có thể đảm bảo
được số ghế tương đương số ghế của đảng Xã hội. Trong khi đó, theo Frears, “Nếu
hệ thống bầu cử hai vòng được duy trì, đảng Mặt trận Quốc gia sẽ hầu như không
thể giành được ghế nào trong quốc hội mặc dù đạt được số phiếu bằng với đảng Xã
hội”[14].
Đến đây chúng ta đối diện với luận điểm
thường được viện dẫn để phản đối hình thức bầu cử PR, ngay cả với trường hợp
còn khá trung tính như cơ chế định vị danh sách phòng ban của cung Mitterand.
Lardeyret kết luận về sự thành công của đảng Mặt trận Quốc gia, cũng như sự trỗi
dậy của những đối thủ cực đoan của lực lượng này, trong luận điểm: “Một nền
chính trị nhiều bất trắc như vậy rõ ràng là hệ quả của hình thức bầu cử PR”. Nhưng
thực sự truy vấn thỏa đáng nhất ở đây là: loại trừ động cơ của đảng Xã hội, giải
pháp nào sẽ mang lại công thức bầu cử tốt nhất để đối phó với không chỉ mối đe
dọa của chủ nghĩa cực đoan, mà với tất cả trường hợp khác trong nền chính trị
Pháp giữa thập niên 1980?
Như tôi đã khẳng định từ trước, mọi hệ thống
bầu cử đều mang theo một cái giá – thực tế này lại không được nhấn mạnh bởi những
nhà hùng biện đã khởi sự chuỗi tranh luận này. Trường hợp của nước Pháp có thể
rất khác thường với người ngoài cuộc khi những kẻ nắm thực quyền dường như còn có
thể xáo trộn hệ thống bầu cử theo ý muốn (Hy Lạp cũng là một trường hợp tương tự).
Trong khi sự thực là hành động thao túng như vậy lại có thể được hình dung như
một nỗ lực đáng tuyên dương để ứng phó với những cơn địa chấn chính trị chỉ
trong khoảnh khắc, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng phản xạ không thuần khiết
như vậy vẫn đang hiện diện trong chính trường của cả hai nước.
Rõ ràng, mâu thuẫn phức tạp sẽ nảy sinh
khi người ta phải đối mặt với hệ quả của việc lựa chọn một giải pháp bầu cử nhất
định. Một trường hợp đã rất thu hút sự chú ý của dư luận, với tư cách là kết quả
của một quá trình chuyển đổi hệ thống bầu cử trong nhóm các nước sử dụng hệ thống
đầu phiếu đa số tương đối, là công thức bầu cử bổ sung thành viên (additional member
system) của nước Đức, cơ chế này được thông qua ngay thời điểm hình thành nhà
nước Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1949. Công thức này đảm bảo được cả khả
năng đại diện ý chí của từng đơn vị bầu cử đối với một hệ thống đầu phiếu đa số
tương đối, vừa đảm bảo được khả năng đại diện cho ý chí của những đảng phái mạnh
trên toàn quốc. Cấu trúc này bao gồm một giới hạn áp dụng cho cả cử tri và đảng
phái được hỗ trợ toàn quốc, theo đó một bên phải đạt được ít nhất 5 phần trăm tổng
số phiếu biểu quyết để đảm bảo chỗ ngồi trong Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag).
Hình thức hỗ trợ này, dù thực tế thường hạn chế hơn, đã được Đảng Dân chủ Tự do
(Free Democratic Party – FDP) tận dụng thường xuyên, để họ vẫn đảm bảo được vị
trí quan trọng đứng giữa thế lực vượt trội của đảng Liên minh Dân chủ Thiên
chúa giáo (Christian Democratic Union – CDU) và đảng Dân chủ Xã hội (Social
Democratic Party – SPD). Như Gordon Smith đã giải thích: “Chiến lược đảm bảo vị
thế giữa hệ thống đảng phái của Đảng Dân chủ Tự do… đã mang lại cho lực lượng
này một sức nặng vượt quá quy mô trong sự hiện diện trước Quốc hội Đức”[15]. Bằng vị thế quan trọng
này, đảng FDP đã luôn có thể tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và hoạt động
của chính phủ Đức. Thực sự là tổ chức đã có thể xáo trộn toàn bộ kếu cấu của
chính phủ Đức mà không cần đến lợi thế lực lượng trong quá trình bầu cử, đặc biệt
là khi FDP từ bỏ liên minh với SPD vào năm 1982 và mở ra liên minh với CDU.
Dạng đòn bẩy không cân xứng lấy cơ sở là “điểm
tựa” tuy nhỏ nhưng chắc chắn trong chiến lược của đảng FDP thực chất không phải
là một đặc trưng vốn có trong hệ thống bầu cử PR. Ví dụ, thủ thuật chính trị
này ít xuất hiện ở các nước Bắc Âu. Hơn nữa, ngay cả khi những đảng phái như vậy
có tồn tại, sức mạnh của họ chủ yếu đến từ quy mô cụ thể của khả năng huy động
chính trị của họ (nghĩa là khả năng tạo ra tình huống chính trị khiến ngay cả đảng
phái của lực lượng đa số cũng không thể được hình thành nếu không có sự đồng
thuận của các lực lượng thiểu số), so với điểm tựa từ đặc trưng của hệ thống bầu
cử PR. Nhưng hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, với xu hướng cách ly tác động
của phe thứ ba, luôn khiến cho những đảng phái nhỏ như vậy ít có khả năng trỗi
dậy, đó là lý do tại sao đến giờ nước Anh vẫn không mặn mà với hệ thống bầu cử
PR.
Những
thể chế mới ở vùng Trung Âu
Nếu chúng ta chuyển đề tài từ những thể chế
đã hoàn thiện ở Tây Âu đến những thể chế còn non trẻ ở Trung Âu, chúng ta sẽ thấy
một loạt trường hợp rất thú vị. Ở Cộng hòa Tiệp khắc, các cuộc bầu cử hậu cộng
sản đã được tổ chức vào tháng 6 năm 1990 cho cả lưỡng viện của Quốc hội Liên
bang và Hội đồng quốc gia tương ứng của Czech và Slovak. Một hệ thống bầu cử dựa
trên danh sách đảng đã được thông qua trong cả ba trường hợp, nhưng vẫn có mối bận
tâm về hai vấn đề[16]. Một là một nỗi sợ hãi trước
các lực lượng phân mảnh ngự trị cơ quan lập pháp giữa hai cuộc chiến; hai là nỗi
lo về những bộ máy đảng phái quá tự phụ, một đặc trưng đã hiện diện trước đó. Vậy
nên đã có phương pháp được thông qua để đối với với những khả năng như vậy. Chúng
bao gồm một giới hạn 5 phần trăm số phiếu cho các đảng phái trong Quốc hội Liên
bang và Quốc hội Czech, và một điều khoản hỗ trợ cho phương pháp đầu phiếu ưu
tiên trong danh sách đảng phái (preferential voting), dù thực tế còn phức tạp
hơn nhiều.
Họ đã thực sự tránh được kịch bản siêu
phân mảnh chính trị, mặc dù diễn tiến này đạt được là do phần lớn công lao của
đảng Diễn đàn Công dân (Civic Forum) trong nỗ lực kêu gọi sự ủng hộ rộng rãi dành
cho một phong trào chuyển tiếp chính trị gắn bó chặt chẽ với Cách mạng Nhung (Velvet
Revolution)[17].
Đảng Diễn đàn Công dân đã đạt được khoảng hai phần ba số ghế trong mỗi viện của
Quốc hội Liên bang cũng như trong Hội đồng Quốc gia Czech.
Mặc dù từ trước đã có những lời đồn đoán của
dư luận và giới bình luận, kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội Liên bang, được tổ
chức vào tháng 6 năm 1992, đã xác nhận một sự hợp nhất của những liên minh
chính trị đứng đầu cộng đồng Czech và Slovak (đảng Dân chủ Công dân và đảng Phong
trào Dân chủ vì Slovakia)[18]. Tuy nhiên, cũng chính
quá trình hợp tác này đã thúc đẩy sự chia rẽ sắp đến của một nhà nước liên bang
với 74 năm tuổi thành nhà nước Cộng hòa Czech và Cộng hòa Slovakia riêng biệt. Vậy
nên Hindsight tiết lộ rằng thế lực dị thường trong bóng tôi không phải là phản ứng
phân mảnh của chính trị mà là phản ứng phân hạch của quốc gia, mặc dù có vẽ
cũng không hợp lý khi chúng ta hy vọng rằng một cơ cấu về bản chất được tạo ra
với ít khả năng hỗ trợ chính phủ liên minh đối với cả hai bộ phận của liên bang
sẽ có thể mang lại giải pháp mang tính xây dựng hơn.
Trường hợp của Ba Lan, dù đã gây hoang
mang, là một ví dụ chỉ rõ hệ quả từ những trục trặc trong cơ chế bầu cử. Chính
cuộc bầu cử tháng 10 năm 1991 của hệ thống nghị viện Sejm đã dẫn đến sự xuất hiện
của 29 đảng trong quốc hội, trong đó đảng lớn nhất chỉ thu được khoảng 13 phần
trăm tổng số phiếu bầu và khoảng 14 phần trăm tổng số ghế[19]. Lượng cử tri đi bầu cũng chỉ chiếm 42 phần
trăm. Cuộc bầu cử này được tổ chức trên cơ sở của hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ
lệ, nhưng không có ngưỡng giới hạn, trên 37 đơn vị bầu cử với từ 7 đến 17 thành
viên ở mỗi đơn vị bầu cử. Hơn 15 phần trăm tổng số ghế (69 trong 460) được phân
bổ trên toàn quốc với một ngưỡng 5 phần trăm và một yêu cầu hỗ trợ từ ít nhất
năm đơn vị bầu cử[20]. Phải mất gần hai tháng
đàm phán chuyên sâu nội bộ trước khi một chính phủ mới có thể được hợp thành,
và tiếp đến là một loạt thay đổi trong chính phủ.
Trường hợp của Czech và Ba Lan là những ví
dụ điển hình cho tính bất định trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền
chính trị độc đảng sang nền chính trị đa nguyên. Nhưng mỗi giai đoạn chuyển tiếp
như vậy đều có vấn đề và đặc thù riêng, và các cơ chế bầu cử vẫn chỉ là một
khía cạnh trong bức tranh toàn cảnh của vũ đài chính trị. Ở Hungary, tốc độ của
quá trình chuyển đổi chính trị để thoát khỏi hệ thống độc đảng ở vào khoảng giữa
của cuộc tranh đấu kéo dài của đảng Công đoàn Đoàn kết (Solidarity) ở Ba Lan và
cuộc Cách mạng Nhung bùng lên trong khoảnh khắc ở Prague. Hơn ba năm đã trôi
qua từ khởi điểm của cuộc tranh luận dữ dội, những quá trình thương lượng kéo
dài, và các công việc được tổ chức vào giữa năm 1987, đến cuộc bầu cử quốc hội
đa đảng đầu tiên trong tháng 4 năm 1990, khi Hungary chính thức từ bỏ chủ nghĩa
cộng sản và đặt ra hiến pháp mới.
Một hội nghị bàn tròn đã diễn ra vào mùa
thu năm 1989 nhằm xác lập hình thức của hệ thống bầu cử cho cuộc bầu cử tự do đầu
tiên ở nhà nước Hungary thời hậu cộng sản. Một nhà phân tích chính trị Hungary
đã tổng kết tình hình như sau:
“Các đảng truyền thống (Tập hợp Tiểu
thương (Smallholders), Dân chủ Xã hội (Social Democrats), Dân chủ Thiên chúa
giáo (Christian Democrats)) ủng hộ hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ dựa trên
danh sách đảng phái, từng được sử dụng trong năm 1945 và 1947. Tuy nhiên, quan
điểm chung trên cả nước, đặc biệt là của các nghị sĩ trong quốc hội, khiến
chúng ta không thể xóa bỏ hình thức bầu cử hiện hành ở các địa phương. Bởi vì
không có phong trào vận động mạnh mẽ đằng sau các đảng chính trị mới, tính hợp
pháp của họ cũng bị hạn chế. Giới trí thức địa phương và các công dân không muốn
để cho quá trình bầu cử bị thao túng hoàn toàn bởi bộ máy quan liêu bên. Các cuộc
tranh luận căng thẳng và quan điểm chung như vậy khiến chúng ta không thể giới
thiệu bất kỳ hệ thống bầu cử nào dựa trên một nguyên tắc duy nhất. Do đó hệ thống
bầu cử mới đã trở thành một sự kết hợp các nguyên tắc và kỹ thuật khác nhau.
386 ghế ngồi của Quốc hội độc viện Hungary đã được chia thành ba loại: 176 ghế
được bầu trong nhóm các đơn vị bầu cử một thành viên, 152 ghế được bầu trong
nhóm sử dụng hình thức bầu cử dựa trên danh sách đảng phái, và 58 ghế được bầu
bởi hình thức bầu cử dựa trên danh sách đảng phái toàn quốc.”[21]
Trong khu vực bầu cử một thành viên, người
ta sẽ cần đến lá phiếu ở vòng bầu cử thứ hai nếu không có ứng cử viên nhận được
đa số phiếu bầu tuyệt đối ở vòng đầu tiên. Đối với lá phiếu thứ hai này, hình
thức bầu cử đa số tương đối sẽ hạ màn cuộc bầu cử. Những chiếc ghế dựa trên
danh sách đảng phái theo khu vực và những chiếc ghế dựa trên danh sách đảng
phái quốc gia đều là đối tượng của giới hạn 4 phần trăm. Toàn bộ công thức này được
lập ra là để ngăn chặn các đảng phái theo đuổi kiểu chính trị phe đảng và mưu lợi
cho riêng mình. Nhưng cái giá của nó là không thể chối cãi: giới cử tri không mấy
ấn tượng, và hầu như không có khu vực bầu cử nào xác định được kết quả trong
vòng bầu cử đầu tiên. Do sự phức tạp của các quy định bầu cử, sẽ rất khó để xác
định kết quả có thực sự phản ánh đúng tỷ lệ không dựa trên tỷ số giữa ghế ngồi
và lá phiếu trong vòng bầu cử đầu tiên. Tuy nhiên, dẫu sao họ cũng đã thành lập
được một Quốc hội với sáu đảng, khiến một liên minh của đa số được hình thành,
là liên minh của các đảng lớn nhất và hai đảng lệ thuộc.
Thành
tựu và khuyết điểm
Những trường hợp tôi vừa trình bày chứng
minh rằng những hình thức bầu cử dựa trên cơ sở PR có xu hướng tạo ra kết quả
ít hơn tối ưu, từ điểm nhìn hướng đến một chính phủ ổn định, mạch lạc, và hiệu
quả. Tuy nhiên, không vì vậy mà chúng ta có thể kết luận một cách đơn giản đến
ngớ ngẩn rằng PR luôn là lựa chọn sai. Không chỉ bởi vì hình thức bầu cử PR có
thể phát huy hiệu quả trong một số bối cảnh nhất định của các quốc gia (chẳng hạn
như Na Uy, Thụy Điển và Hà Lan), mà còn bởi vì chính hệ thống bầu cử đa số
tương đối (điển hình là ở Anh) có thể cho thấy khiếm khuyết nghiêm trọng đặc
thù.
Nền chính trị Anh, giống như Hoa Kỳ, là
vùng đất của những đơn vị bầu cử một thành viên hợp pháp và sử dụng nguyên tắc
kẻ – chiến – thắng – có – tất – cả trong các cuộc bầu cử. Để giành chiến thắng,
một ứng cử viên không cần phải đảm bảo chiếm đa số phiếu bầu trong bầu cử. Tất
nhiên đó sẽ là trường hợp chỉ có hai ứng cử viên cạnh tranh; Tuy nhiên, trong
thực tế, ba hoặc nhiều ứng cử viên thường cạnh tranh trong hầu hết khu vực bầu
cử ở Anh. Các ứng cử viên do đó có thể được bầu lại với chỉ hơn một phần ba số
phiếu bầu ở những nơi có ba ứng cử viên, hoặc chỉ hơn một phần tư ở những nơi
có bốn ứng cử viên, và cứ tiếp tục chia tỷ lệ như vậy.
Có hai vấn đề nghiêm trọng phát sinh trong
hệ thống bầu cử kiểu Anh. Vấn đề đầu tiên, và cũng là một trong những bất trắc
phổ biến nhất thường được trích dẫn bởi các nhà phê bình, là hệ thống này thiếu
sự hỗ trợ dành cho tỷ lệ cân xứng giữa tổng số phiếu bầu cho danh sách đảng
phái trên toàn quốc và số ghế trong quốc hội. Luôn luôn là đảng yếu nhất trong
ba đảng quốc gia quan trọng, đảng Dân chủ Tự do (trước đây là đảng Tự do), chịu
thiệt nhiều nhất. Cuộc bầu cử quốc hội tháng 4 năm 1992 là một kịch bản khá điển
hình, đảng Dân chủ Tự do đạt được 17,8 phần trăm trong tổng số phiếu quốc gia,
nhưng chỉ tập hợp được đa số trong 20 khu vực bầu cử, nghĩa là họ chỉ đảm bảo được
3 phần trăm số ghế trong Hạ viện. Bởi vì hệ thống không được thiết kế để cung cấp
tỷ lệ tương xứng, rất hiếm khi xảy ra trường hợp số phiếu và số ghế cân bằng
nhau, ngay cả với hai đảng lớn nhất[22]. Mặt khác, hệ thống này luôn
tạo ra chính phủ một đảng cầm quyền. Trong tất cả các cuộc bầu cử được tổ chức
tại Anh kể từ năm 1945, chỉ có một lần duy nhất (là cuộc bầu cử tháng 2 năm
1974 đã đưa Harold Wilson đến số 10 đường Downing[23] với tư cách là người đứng
đầu của một liên minh giữa đảng Lao động và đảng Tự do) đã không cho ra kết quả
với một đảng phái chiếm ưu thế tuyệt đối.
Những lời chỉ trích ít thường xuyên hơn về
hệ thống bầu cử kiểu Anh nhấn mạnh sự thờ ơ trong phần lớn các cử tri, những
người hoàn toàn có lý do để cho rằng họ có bỏ phiếu hay không cũng chẳng có vấn
đề gì. Vào tháng 4 năm 1992, chỉ có 52 trong số 651 ghế trong quốc hội được
trao từ người này sang người khác. Và có lẽ chuyển biến với 50 ghế ngồi tiếp
theo có thể gây ra sự khó chịu trong toàn cảnh. Do đó, có khoảng hơn 500 ghế rất
khó được thay đổi từ xa; đây là hiện tượng luôn xảy ra trong mỗi cuộc bầu cử.
Trong một hệ thống bầu cử hoàn toàn cân xứng về tỷ lệ giữa số phiếu và số ghế,
tất cả các phiếu sẽ luôn có khả năng phân phối lại số ghế. Mặc dù có lẽ sẽ
không có thay đổi tổng thể đến chấn động xuất hiện ngay giữa hai lần bầu cử, nhưng
một cấu trúc công bằng sẽ đảm bảo khả năng biện minh tốt hơn cho hoạt động bầu
cử.
Từ điểm đứng của một khát khao thuần khiết
hướng đến quá trình chuyển đổi tương xứng từ phiếu bầu thành kết quả, một hệ thống
bầu cử với tỷ lệ cân xứng có thể được tạo dựng, ít nhất về nguyên tắc là như vậy,
để đảm bảo những lợi ích của nền dân chủ. Nếu đảng phái là phương tiện duy nhất
để xác lập khả năng đại diện nhân dân, và nếu chính phủ là nền tảng trong vấn đề
này, vì sự thể đã luôn hiện hữu như vậy trong tất cả các hệ thống nghị viện hợp
pháp, với điểm tựa là sức mạnh của đảng phái trong cơ quan lập pháp, dường như
chúng ta còn rất ít lý luận khả dĩ biện minh cho bất kỳ hệ thống nào thu hẹp phạm
vi lựa chọn bầu cử. Tuy nhiên, trong thực tế, có những lập luận ghê gớm, khát
quát lẫn cụ thể, chống lại hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ.
Lập luận phổ biến nhất trong số này nhấn mạnh
mối đe dọa mà kết quả bầu cử theo hình thức PR có thể gây ra cho sự kết nối
trong chính phủ. Quá trình hình thành một chính phủ đại chúng sau khi một cuộc
bầu cử với tỷ lệ cân xứng đã tạo nên hệ thống cơ quan lập pháp phân mảnh phụ
thuộc vào việc giải quyết rất nhiều thách thức. Thách thức đầu tiên xảy đến khi
thời gian thương lượng nội bộ kéo dài sau cuộc bầu cử quốc hội lại trì hoãn thời
gian thành lập nội các. Tại Hà Lan, như chúng ta đã thấy, quá trình thành lập nội
các bị trì hoãn đã trở thành một thông lệ gây nhiều phiền hà và không còn là vấn
đề hệ trọng của nền chính trị quốc gia nữa. Một ví dụ đáng lo ngại hơn về sự chậm
trễ trong việc hình thành nội các là trường hợp nước Bỉ gần đây, nơi mà phải
sau 5 tháng tính từ cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức vào tháng 11 năm 1991 thì
chính phủ mới được thành lập. Hiện tượng tê liệt nghiêm trọng như vậy không thể
được đơn thuần quy kết cho hình thức bầu cử PR, tất nhiên điều đó cũng không có
nghĩa rằng một hệ thống đầu phiếu đa số tương đối sẽ tốt hơn hẳn cho trường hợp
nước Bỉ. Nhưng đây vẫn là trường hợp cho thấy một nền chính trị phân mảnh sẽ
phát sinh những giai đoạn phiền hà, tiềm ẩn rủi ro như thế nào.
Thách thức thứ hai phát sinh khi các liên
minh kỳ quặc được tạo ra hoàn toàn từ mục đích vụ lợi, điển hình là sự kết hợp
giữa đảng Xã hội Bồ Đào Nha (Portuguese Socialist Party) với đối thủ truyền kiếp
của nó là đảng Trung tâm Dân chủ Xã hội (Social Democratic Center Party), trong
giai đoạn 1977–1978. Điều thú vị nhất trong trường hợp Bồ Đào Nha là thông qua
chính hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (dựa trên danh sách đảng phái ở những
dơn vị bầu cử đa dạng về quy mô) mà người ta lại tạo ra được một chính phủ đại
chúng một đảng cầm quyền sau cuộc bầu cử năm 1987 và 1991[24].
Thách thức thứ ba nổi lên khi sự thể được chứng
minh rằng người ta không thể thành lập chính phủ vì đa số trong tất cả mọi trường
hợp, và kết quả là phải thành lập chính quyền vì thiểu số. Các trường hợp đáng
chú ý là nhóm nước Scandinavia, điển hình là Đan Mạch, với chỉ ba chính phủ đa
số được thành lập từ năm 1945, cho thấy rõ những đặc trưng của hiện tượng thiếu
minh bạch này. Ba Lan hiện nay cũng là một trường hợp đáng chú ý.
Một thách thức khác đến từ sự hình thành
liên minh trong một cơ quan lập pháp phân mảnh là trách nhiệm với cử tri khi
liên minh chỉ hình thành sau khi cuộc bầu cử kết thúc. Có rất nhiều bình luận về
việc này trong trường hợp đặc thù của Hà Lan[25]. Các tranh luận ở đây xoay
quanh hai chủ đề. Đầu tiên là các cử tri trong hoàn cảnh như vậy không thể biết
được đầy đủ hệ quả của sự lựa chọn đảng phái của họ. Vấn đề này có thể được chấp
nhận bởi quan điểm cho rằng thực chất trong tất cả các hệ thống bầu cử, cử tri
đều không thể chắc chắn được kết quả chính xác của lá phiếu của mình. Vấn đề thứ
hai – chính những liên minh được thành lập một cách bất ngờ như vậy lại không bảo
đảm được trách nhiệm dân chủ với người dân – lại rất khó để bác bỏ vì luận điểm
này hướng thẳng vào trung tâm của khái niệm phổ biến về chủ quyền nhân dân. Quá
trình kết nối hai hoặc nhiều đảng phái, mỗi phe trong đó lại đại diện cho một nguyện
vọng riêng của những cử tri, trong khi chính họ lại không nắm chắc được nội
dung của những thỏa thuận ngầm này, rõ ràng đặt ra truy vấn thích đáng về tính
hợp pháp của chính phủ.
Rõ ràng trường hợp Hà Lan cũng minh họa
cho vấn đề này, và cả trường hợp nước Đức, nơi những đòn bẩy chính trị đặc thù
đã giúp một số đảng phái nắm được quyền lực ở trung tâm. Các đảng mạnh nhất ở
Hà Lan, hợp nhất kể từ năm 1975 theo tuyên ngôn của đảng Christian Democratic
Appeal, cho thấy hầu hết những thủ thuật vận động liên minh ngầm trong chính trị
của phần lớn thế kỷ này. Cho đến những năm 1960, họ vẫn thường xuyên cho thấy
khả năng tích lũy khoảng một nửa số phiếu bầu và số ghế, duy trì tình trạng
phân mảnh chính trị ở đất nước này. Tuy nhiên, ngay cả trong tình trạng bị suy
giảm quyền lực, khi họ để mất khoảng một phần ba số phiếu, họ cũng không đánh mất
khả năng thao túng đòn bẩy quyết định này, và do đó, họ vẫn có thể làm chủ tình
thế từ trung tâm.
Thử
nghiệm của thực tiễn
Một truy vấn cần thiết cho chuỗi tranh luận
này là vấn đề mối liên kết, hoặc thiếu liên kết, giữa cử tri và đại diện. Cấu
trúc cơ bản của quốc hội Anh đã được thành lập từ lâu, từ khi những đảng lớn dựa
trên sức mạnh của đám đông hoặc phổ thông đầu phiếu còn chưa xuất hiện. Mặc dù cấu
trúc này đã được sửa đổi trong thời gian gần đây, những yếu tố căn bản của hệ
thống vẫn dựa vào tính địa phương. Điều này có nghĩa là mỗi người dân, dù anh ấy/
cô ấy có bỏ phiếu hay không và bỏ phiếu như thế nào, thì anh ấy/ cô ấy luôn có
một đại diện trong cơ quan lập pháp và người đó có thể trực tiếp giải quyết khi
anh ấy/ cô ấy bất bình. Lý thuyết này xuất phát từ giả định rằng mỗi nghị sĩ phục
vụ cho tất cả lợi ích và nguyện vọng trong khu vực bầu cử của mình. Với tính ưu
việt hiện tại của chiến lược duy trì đảng phái mạnh cho toàn quốc, giả định này
không hẳn tiêu cực, nhưng vẫn tồn tại trong tâm trí của cả người dân và các nhà
lập pháp. Thật vậy, trong một cuộc khảo sát gần đây về thái độ của các nghị sĩ
Anh hướng tới cải cách bầu cử, đa số người được hỏi đã xếp giả định này ở đầu
danh sách của họ về những đặc trưng của hệ thống đại diện tỷ lệ[26].
Những lợi ích cụ thể của hệ thống đầu phiếu
đại diện tỷ lệ ở địa phương có thể khác nhau như đánh giá, nhưng chúng ta vẫn
không thể phủ nhận rằng ở những điểm mà tính cân xứng lại từ bỏ khả năng đại diện
địa phương, thì ngay sau đó mối quan hệ giữa công dân và các cơ quan lập pháp cũng
bị ảnh hưởng. Đây là một trong những lý do tại sao khái niệm “hệ thống hỗn hợp”,
điển hình là hệ thống thành viên bổ sung ở nước Đức, đã thu hút sự quan tâm của
các nhà cải cách trong một hệ thống đầu phiếu đa số tương đối như ở Anh.
Luận điểm cuối cùng trong kho khí tài mà
các nhà phê bình dành ra để chống lại hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ là tiềm
năng duy trì quyền lực cho phe phái ở ngoại biên (như đã phân tích ở trên trong
trường hợp nước Pháp). Các tài liệu về chủ đề này thực sự rất phong phú và đa dạng,
từ những nghiên cứu về sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít trong giai đoạn giữa
hai cuộc đại Thế chiến tới những ghi nhận về mối đe dọa đến từ cả lực lượng cực
tả và cực hữu (và bây giờ còn đến từ cả trào lưu chính thống[27]) từ sau năm 1945. Các tài
liệu thì chỉ có thể ngày càng dày thêm, các cuộc tranh luận thì mãi mãi kết
thúc mở. Nếu một hệ thống bầu cử được vận hành nhằm loại trừ mọi biểu hiện của
xu hướng phản dân chủ, thì phải chăng làm như vậy cũng có nghĩa là bịt miệng cả
những phe thiểu số vốn không hề phản dân chủ? Phải chăng vấn đề cần được giải
quyết bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như Luật cơ bản của nước Đức nhằm
bài xích mọi đảng phái phản dân chủ? Dù những sự phán xét vô tư có thể đi xa đến
đâu trong truy vấn này, những người đã sống dưới một thể chế được vận hành từ
lâu bởi hệ thống đầu phiếu đa số tương đối luôn có thể chắc chắn rằng một phong
trào chống dân chủ có rất ít khả năng trỗi dậy và đạt được ảnh hưởng đáng kể trong
cơ quan lập pháp ở quốc gia của họ.
Bất kỳ tòa án công bằng nào khi xét đến cả
những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống đầu phiếu đại diện tỷ lệ (trong nhiều
hình thức khả dĩ khác nhau) và hệ thống đầu phiếu đa số tương đối (cũng trong
nhiều hình thức khả dĩ khác nhau) đều sẽ từ chối phán xét phần lớn dựa trên hoặc
thậm chí hoàn toàn dựa trên lý thuyết. Bài kiểm tra tốt nhất luôn là bài kiểm
tra của thực tiễn và tương thích với hoàn cảnh quốc gia. Và nền tảng trọng yếu
trong những điều kiện đặc thù của quốc gia – yếu tố phải luôn có ảnh hưởng nhất
trong mọi chuỗi tính toán về cơ chế bầu cử thay thế dành cho quốc gia tương ứng
– chính là mô hình của quá trình vận động chính trị hiện hành. Không một hình
thức cải cách nào, dù được chứng minh toàn diện bởi một lý thuyết hoặc sự hỗ trợ
đặc biệt ra sao, có thể được áp dụng một cách thỏa đáng vào một nền chính trị,
nếu động lực của nền chính trị này sẽ làm giải pháp cải cách ấy trở nên hoàn
toàn bất khả thi, trở thành yếu tố gây hại, trở nên một điều phi lý, trở thành
yếu tố gây rối loạn, hoặc thậm chí trở thành một thảm họa. Nhiệm vụ phân tích tác
động của các cơ chế bầu cử khác nhau chắc chắn là một trong những nhiệm vụ thiết
yếu của các nhà khoa học chính trị, nhưng chắc chắn không một công thức bầu cử nào
luôn có thể được đề xuất như một giải pháp vạn năng.
Nhu cầu xây dựng môi trường cạnh tranh tự
do, công bằng và cởi mở cho những cuộc chạy đua vì quyền lực chính trị thường đặc
biệt sống động ở các quốc gia còn non trẻ, nhưng thiếu tài nguyên. Trong hoàn cảnh
như vậy, người ta sẽ phải vượt qua được giới hạn của phương pháp để đề xuất được
giải pháp chung cho khả năng đại diện ý chí của nhân dân. Tuy nhiên, ta vẫn có
thể nuôi dưỡng một niềm hy vọng rằng chuỗi tranh luận mà bài viết này góp ý sẽ
trở thành tài liệu có giá trị đối với giới hoạch định chính sách trong những xã
hội mà khái niệm “chính phủ đại chúng” vẫn còn mới mẻ trong chương trình nghị sự.
[1] Nguồn: Sir Henry Maine, Popular
Government (London: John Murray, 1885). (Chú thích của tác giả)
[2] Nguồn: Arend Lijphart,
“Constitutional Choices for New Democracies,” Journal of Democracy 2 (Winter
1991); Guy Lardeyret, “The Problem with PR,” Quentin L. Quade, “PR and
Democratic Statecraft,” and Arend Lijphart, “Double-Checking the Evidence,”
Journal of Democracy 2 (Summer 1991). (Chú thích của tác giả)
[3] Nguồn: Larry Diamond, “Three
Paradoxes of Democracy,” Journal of Democracy 1 (Summer 1990), trang 54. (Chú
thích của tác giả)
[4] Một quan chức của Cộng đồng Cải
cách Bầu cử Anh quốc gần đây tuyên bố rằng ông ấy biết đến ba trăm công thức bầu
cử khác nhau. (Chú thích của tác giả)
[5] Cả ba hệ thống đặc thù này đều dựa
vào cử tri. Hệ thống thành viên bổ sung phân phối ghế ngồi bổ sung tương ứng với
danh sách quốc gia về các đảng phái được hỗ trợ. Hệ thống bầu cử sử dụng lá phiếu
thay thế là một hệ thống ưu tiên cho phép cử tri xếp hạng ứng cử viên theo thứ
tự ưu tiên và sau đó tái định vị lần hai (hoặc lần tiếp theo) lựa chọn của những
người đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên yếu nhất để tập hợp được đa số phiếu. Hệ
thống bầu cử lá phiếu chuyển nhượng đơn cũng hoạt động tương tự như hệ thống bầu
cử lá phiếu thay thế, nhưng áp dụng ở những khu vực bầu cử đa thành viên. (Chú
thích của tác giả)
[6] Các đề xuất nghiêm túc nhất hiện
nay bao gồm ba hệ thống nêu trên. Có rất ít sự ủng hộ rõ rệt dành cho lối tiếp
cận dựa trên danh sách đảng phái, dù lấy cơ sở khu vực hay quốc gia. (Chú thích
của tác giả)
[7] Nguồn: H. Daalder, “Extreme
Proportional Representation: The Dutch Experience” (London: Anthony Wigram,
1975). (Chú thích của tác giả)
[8] Nguồn: K.R. Gladdish, Governing
from the Centre: Politics and Policy-Making in the Netherlands (London: C.
Hurst, 1991), chương 6. (Chú thích của tác giả)
[9] Bài viết của Guy
Lardeyret và Quentin L. Quade đều khẳng định luận điểm này. (Chú thích của người
dịch)
[10] Nguồn: K.R. Gladdish, “Governing the
Dutch”, Acta Politica 25 (October 1990), trang 389 đến 402. (Chú thích của tác
giả)
[11] Nguồn: Alistair Cole and Peter
Campbell, French Electoral Systems and Elec-tions Since 1789 (Aldershot,
England: Gower, 1989). (Chú thích của tác giả)
[12] Nguồn: Howard Penniman, France at
the Polls, 1981 and 1986 (Durham, N.C.: Duke University Press, 1988), trang 211.
(Chú thích của tác giả)
[13] Nguồn: Howard Penniman, France at
the Polls, trang 181. (Chú thích của tác giả)
[14] Nguồn: Howard Penniman, France at
the Polls, trang 214. (Chú thích của tác giả)
[15] Nguồn: Gordon Smith, William
Paterson, và Peter Merkl, Developments in West German Politics (London:
Macmillan, 1989), trang 71. (Chú thích của tác giả)
[16] Nguồn: Judy Batt, “After
Czechoslovakia’s Velvet Poll,” World Today 46 (August–September 1990), trang
141–143. (Chú thích của tác giả)
[17] Cách mạng Nhung (tiếng Séc:
sametová revoluce; tiếng Slovak: nežná revolúcia) là một cuộc cách mạng bất bạo
động tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc diễn ra từ ngày 16 tháng 11 đến
ngày 29 tháng 12 năm 1989 và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa đã
kéo dài 41 năm tại nước này. Sự kiện này nằm trong chuỗi sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghĩa tại khắp các nước Đông Âu khác trong năm 1989. Ngày 17 tháng 11 năm
1989, cảnh sát đã đàn áp cuộc biểu tình hòa bình của sinh viên thủ đô Praha kỷ
niệm 50 năm Ngày Sinh viên Quốc tế. Bắt đầu từ ngày 19 tháng 11 năm 1989, hàng
loạt những cuộc biểu tình của người dân Tiệp Khắc đã diễn ra trên khắp đất nước
cho đến tận cuối tháng 12. Đặc biệt vào ngày 20 tháng 11, số lượng người tham
gia biểu tình tại Praha đã tăng từ 200.000 người của ngày hôm trước lên đến nửa
triệu người. Ngày 27 tháng 11, một cuộc đình công phản đối đồng loạt trên toàn
quốc đã diễn ra trong hai giờ đồng hồ. Cùng
với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại hầu khắp các nước Đông Âu khác
cũng như sức ép của quần chúng nhân dân ngày càng dâng cao, vào ngày 28 tháng
11 Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã tuyên bố từ bỏ quyền lực và giải tán chế độ một đảng
duy nhất nắm quyền. Vào đầu tháng 12, những hàng rào dây thép gai trên biên giới
với Tây Đức và Áo được dỡ bỏ. Ngày 10 tháng 12, chủ tịch nước Gustav Husak đã
chỉ định một chính phủ phần lớn không là cộng sản rồi sau đó từ chức. Alexander
Ducek, người từng lãnh đạo phong trào Mùa Xuân Praha trước đây được cử làm phát
ngôn viên của chính phủ nước Cộng Hòa Tiệp Khắc, vào ngày 28 tháng 12. Vaclav
Havel được bầu làm tổng thống mới của Tiệp Khắc. (Chú thích của người dịch)
[18]NguồN: Economist, 13 June 1992.
(Chú thích của tác giả)
[19] Nguồn: 17. David Warszawski, “The
Elections: Don’t Let’s Be Shocked,” East Euro-pean Reporter, January–February
1992, trang 19 đến trang 21. (Chú thích của tác giả)
[20] Krzysztof Jasiewicz, “From
Solidarity to Fragmentation,” Journal of De-mocracy 3 (April 1992): trang 55 đến
trang 69. Trong công trình này, Jasiewicz đã truy vấn rằng liệu những hệ thống
bầu cử bị thao túng có thể tránh kịch bản siêu phân mảnh, mặc dù xét trên những
tính toán của ông về giải pháp thay thế thì có vẻ rằng nguy cơ dẫn đến kịch bản
này có thể suy giảm đáng kể. (Chú thích của tác giả)
[21] Nguồn: Bài viết “The Hungarian
Parliamentary Elections 1990” của A. Körösényi trong công trình Post-Communist
Transition: Emerging Plu-ralism in Hungary (London: Pinter, 1992) của A.
Bozóki, A. Körösényi, và G. Schopflin. (Chú thích của tác giả)
[22] Trong trường hợp của cuộc bầu cử
tháng 4 năm 1992, John Curtice đã kêu gọi dư luận chú ý đến một trường hợp số học
chính trị đáng ngạc nhiên: “Đây là lần đầu tiên hệ thống này hoàn toàn thất bại
trong việc cung cấp ghế ngồi bổ sung cho người chiến thắng. Thay vào đó, cho đến
nay rõ ràng đảng Bảo thủ và đảng Lao động có liên quan, và đã hành động tương ứng
với nhau cho kịch bản này”. Bình luận này xuất hiện trên tờ Guardian, 13 Tháng 4
năm 1992. Rõ ràng chuyện đã xảy ra này, bề ngoài có vẻ như lần đầu tiên nhưng
thực chất đã luôn có thể xảy ra trong mọi trường hợp trước đó. Điều này thúc đẩy
luồng tư tưởng khẳng định rằng tính cân xứng cũng không được đảm bảo ngay cả
trong hệ thống đầu phiếu đa số tương đối. Vấn đề này chỉ đơn thuần tồn tại giữa
sự bất định. (Chú thích của tác giả)
[23] Dinh của Thủ tướng Anh. (Chú thích
của người dịch)
[24] Một cựu thành viên của quốc hội Bồ
Đào Nha đã đánh giá như sau về hệ thống bầu cử: “Bốn đảng chủ chốt.. đã nghi ngờ
rằng cuộc bầu cử được tiến hành theo những quy tắc làm giảm khả năng đại diện
cho ý chí cá nhân đến độ viền nổi vai trò của phe đảng chứ không phải của cử
tri”. Sau đó cô ấy đã cảnh báo: “Thật vậy, cách vận hành của hệ thống đầu phiếu
đại diện tỷ lệ ở Bồ Đào Nha sẽ là một bài học đúng đối tượng đối với đám người
Anh ngờ nguệch tin rằng thông tin về trường hợp này có thể cải thiện thể chế ở
Anh”. Nguồn: Patricia Lança, “The Land of Mild Customs”, Salisbury Re-view,
June 1992, trang 29. (Chú thích của tác giả)
[25] Nguồn: K.R. Gladdish, “Two-Party
versus Multi-Party: The Netherlands and Britain,” Acta Politica 7 (July 1972),
trang 342 đến 361, K.R. Gladdish, “Two-Party versus Multi-Party: The
Netherlands and Britain,” Parliamentary Affairs 26 (June– August 1973), trang
454 đến 470. (Chú thích của tác giả)
[26] Nguồn: 23. K.R. Gladdish, A.T.W.
Liddell, and P.J. Giddings, “MPs’ Perceptions of the British Electoral System”
(University of Reading Politics Group Research Paper No. 1, 1984). (Chú thích của
tác giả)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét