Tại
sao dân chủ trực tiếp thất bại ở Israel
Emanuele Ottolenghi
Emanuele Ottolenghi
là nghiên cứu sinh về chính trị, xã hội và luật pháp Israel, tại trung tâm
nghiên cứu tiếng Hebrew và Do thái Oxford, và Cao đẳng St. Antony, Đại học
Oxford. Ông mong muốn bày tỏ lời cảm ơn đến trung tâm Trung Đông và học viện
Anh vì những hỗ trợ về mặt tài chính cho bài nghiên cứu đứng sau bài luận này.
Bài luận được in lần đầu tiên trong ấn bản tháng 10/ 2001 của tạp chí Dân chủ.
Gần 10 năm trước,
Israel trở thành nhà nước dân chủ nghị viện đầu tiên áp dụng hình thức bầu cử
trực tiếp để chọn ra thủ tướng. Động lực thúc đẩy cải cách do khủng hoảng chính
phủ mùa xuân năm 1990, khi đó cã thành viên Quốc hội có hành vi chuyển đảng,
đảng phái và cá nhân các nhà lập pháp cạnh tranh chỗ đứng và lợi ích chính trị.
Tình trạng này còn được biết đến như một phần của những thủ đoạn chính trị đã
dẫn đến việc sửa đổi Luật cơ bản năm 1992. Phần được sửa đổi yêu cầu quá trình
bầu cử Thủ tướng được tổ chức đồng thời với quá trình bỏ phiếu thành lập Quốc
hội, mặc dù sau đó quyềm hành của Thủ tướng tiếp tục phụ thuộc vào lá phiếu tín
nhiệm của nghị viện.
Nhưng cải cách không hiệu quả như mong đợi. Sau 3 lần áp dụng trong các
đợt bầu cử trong 1996, 1999, và cuộc bầu cử phụ 2/ 2001 với chiến thắng của
Ariel Sharon, đảng Likud vượt qua Ehud Barak, Công đảng, thử nghiệm hình thức
bầu cử mới bị dừng lại. Vào tháng 3/ 2001, quốc gia này áp dụng hình thức bầu
cử tương tự như hệ thống bầu cử trước năm 1992 nhưng có một số thay đổi. Hệ
thống này sẽ đi vào hoạt động trong đợt bầu của tháng 11/ 2003.
Israel chuyển sang bầu cử trực tiếp để khắc phụ tình trạng manh mún, bất
ổn và bảo thủ - nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng năm 1990. Đây là những hệ quả
thường thấy do đại diện theo tỷ lệ mang lại.
Bầu cử theo tỷ lệ ở Israel cho phép các đảng
dù chỉ có 1,5% số phiếu ủng hộ cũng có được vị trí trong quốc hội Knesset. Tuy
nhiên, những nỗ lực cải cách lại không như mong đợi, thậm chí gây ra hậu quả
ngược. Tổng tuyển cử năm 1996 và 1999 đều không đạt được hiệu quả trong việc
xây dựng liên minh, gây thất vọng với những người ủng hộ cải cách. Những đảng
nhỏ cũng cạnh tranh tích cực tìm kiếm
ứng viên cho vị trí cấp cao. Kết quả đã tạo nên một liên minh chính phủ chắp
vá, thiếu cấu kết.
Cuộc cải cách có lẽ đáng thất vọng nhất ở chỗ không tạo ra được ứng viên
sáng giá để kéo số phiếu cho Công đảng hay đảng Likud với trong 120 ghế Quốc
hội. Ngược lại, hệ thống bầu cử yêu cầu mỗi cử tri thực hiện 2 lần bỏ phiếu (1
cho thủ tướng, 1 cho vị trí trong quốc hội) gây phân tán lá phiếu. Nhiều cử tri
thay vì bỏ phiếu cho ứng viên đảng Likud hay Công đảng chuyển sang những đảng
nhỏ hơn, làm giảm quyền lực của 2 đảng lớn, đồng thời tạo ra sự manh mún, kẽ hở
cho hoạt động sai trái của đảng.
Bài học rút ra từ nỗ lực đổi mới của Israel để đưa yếu tố của chế độ
tổng thống chế và bán tổng thống chế vào chế đội nghị viện là gì?
Dân chủ trực tiếp để thực hiện
được cần có một số nền tảng sau. Bầu cử cho cả thủ tướng và đại biểu quốc hội
diễn ra trong cùng 1 ngày, như vậy sẽ tối đa số phiếu ủng hộ cho ứng viên thủ
tướng, và giảm thiểu lá phiếu ma, ở đó thủ tướng từ một đảng không nằm trong đa
số của quốc hội. Sự ổn định được đảm bảo thông qua việc quốc hội Knesset và thủ
tướng đều có những biện pháp bãi miễn, tất nhiên khi thực hiện sẽ kéo theo
những cuộc bầu cử mới.
Để được chọn là thủ tướng, 1 ứng viên cần ít nhất 50% số phiếu ủng hộ. 2
ứng viên có lượng ủng hộ cao nhất sẽ đi tiếp vào vòng bỏ phiếu tiếp theo được
tổ chức 2 tuần sau đó. Trong 3 lần bầu cử theo hệ thống này, chỉ có 2 ứng viên
cho vị trí thủ tướng cạnh tranh, và chưa có một vòng bỏ phiếu phụ nào. Nếu
không, hệ thống bầu cử theo tỷ lệ hiện tại của Israel gần như không được thay
đổi gì. Bẩu cử theo tỷ lệ tiếp tục với duy nhất một khu vực bầu cử toàn quốc,
mức ủng hộ tối thiểu 1,5 % và danh sách ứng viên phức tạp.
Một khi được tuyên bố là người thắng cuộc, đương kim thủ tướng có 4 ngày
để trình diện nội các và vạch ra phương hướng chính sách cho chính phủ mới.
Quốc hội Knesset sau đó sẽ cần nhận được đồng thuận về cơ chế nghị viện về bỏ
phiếu tín nhiệm. Nếu thiếu điều này, chính phủ mới sẽ phải giải tán và cuộc bầu
cử mới sẽ được tổ chức trong vòng 45 (sau đó được chuyển thành 90) ngày.
Trong các kịch bản cho cuộc bầu
cử sớm được đề cập trong bộ quyền cơ bản, chỉnh sửa năm 1992, mục tiêu quan
trọng nhất hiện giờ là thủ tướng đương nhiệm có thể từ chức hoặc rời ghế trong
quốc hội, như vậy sẽ yêu cầu tổ chức bầu cử thủ tướng sớm trong khi quốc hội
không có xáo trộn. Đây là một trong những lỗ hổng nếu kết hợp bầu cử thủ tướng
và nghị viện.
Đáng lưu ý là, cải cách năm 1992 hướng đến chế độ nghị viện thông qua
việc trao cho quốc hội quyền ảnh hưởng đến vị trí của thủ tướng qua việc bỏ
phiếu tín nhiệm.
Để hiểu được tại sao hình thái cải cách này được lựa chọn, cần tìm hiểu
tại sao nó được thông qua. Một nghiên cứu đã phân tích những lý do cải cách
thất bại, để từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động cảu hệ thống bầu cử và rút ra
bài học cho những nền dân chủ với hệ thống đảng phân tán.
Tại sao cần bầu cử trực tiếp?
Bầu cử trực tiếp là một trong
những nỗ lực cải cách hệ thống bầu cử của Israel đầu những năm 1990. Ở thời
điểm đó diễn ra tình trạng giằng co kéo dài giữa 2 dảng lớn sau lần chiến thắng
đầu tiên của đảng Likud năm 1977 chấm dứt quãng thời giant hống trị của công
đảng. Trong khi Công đảng và đảng Likud cạnh tranh vị trí dẫn đầu, hàng loạt
các đảng cánh tả, cánh hữu và đảng tôn giáo ngày càng nhận được nhiều sự ủng hộ
hơn. Sự lớn mạnh của những đảng chính trị nhỏ đac trở thành đối trọng cho liên
minh chính phủ của Công đảng và đảng Likud.
Các cuộc bầu cử từ năm 1984 đến 1988 chủ yếu là cuộc cạnh tranh giữa 2
đảng Likud và Công đảng. Tuy nhiên trong những năm 1984 đến 1990, không có đảng
nào giành ưu thế hơn trong tiến trình hòa bình khu vực Trung Đông, cũng như
không đảng nào hình thành được liên minh chính phủ với đảng nhỏ.
Công đảng và đảng Likud đều tuyên bố họ sẽ nỗ lực điều hòa hệ thống bầu
cử theo tỷ lệ hiện đang rơi vào tình trạng bất ổn ở Israel ( chủ yếu bằng cách
nâng tiêu chuẩn số phiếu ủng hộ vào quốc hội Knesset, đồng thời chuyến sang hệ
thống bầu cử dựa trên cử tri thay cho 1 đơn vị bầu cử toàn quốc). Nhưng nỗ lực
này không thành công khi các đảng nhỏ lớn mạnh. Vậy rõ rang là cần phải tìm
kiếm hướng giải quyết khác. Có yes kiến cho rằng Israel nên áp dugnj hình thức
bỏ phiếu không tín nhiệm. Đây sẽ là hình thức mang tính xây dựng vì cho rằng
Quốc hội có thể gairi tán chính phủ thông qua bỏ phiếu không tín nhiệm. Tuy
nhiên, điều này chỉ xảy ra nếu như quốc hội thành lập được chính phủ mới với
thủ tướng và nội các.
Kiến nghị thay đổi này không được thực hiên. Cùng lúc đó, sự phản ứng dữ
dội về những thủ đoạn trong chính trường, vì vậy mà ý tưởng bầu cử trực tiếp
thủ tướng trở thành trọng tâm của những nhà cải cách, và được thông qua năm
1992.
Bầu cửu trực tiếp chỉ là phương án tốt nhất thứ 2 trong để giải quyết
tình huống các đảng nhỏ bỏ phiếu phủ quyết bầu cử theo tỷ lệ. Các nhà cải cách
tin rằng nếu đưa yếu tố tổng thống chế vào hệ thống nghị viện của Israel, sẽ
hạn chế được sự phân tán Quốc hội do các đảng nhỏ gây ra. Những đảng chủ chốt
trong Quốc hội Knesset, sẽ dành được số phiếu ủng hộ lớn hơn cho Thủ tướng. Thủ
tướng cũng sẽ tăng khả năng tự chủ trong quá trình điều hành chính phủ.
Kế hoach cải cách ban đầu là Quốc hội thể bãi miễn Thủ tướng nếu 70 trên
tổng số 120 ghế bỏ phiếu không tín nhiệm. Như vậy Quốc hội đồng thời cũng bị
giải tán. Các nhà cải cách tính toán rằng hình thức bỏ phiếu tín nhiệm có thể
tạo ra sự ràng buộc với Quốc hội. Thủ tướng Israel sẽ có quyền lực ngang Tổng
thống, đưa ra quyết định mà không bị phụ thuộc và các thành phần của liên minh
trong nghị viện. Cụ thể, cái cách hướng đến 1) củng cố tính hợp pháp của Thủ
tướng theo yêu cầu bỏ phiếu trực tiếp; 2) đảm bảo thay đổi của chính phủ phải
nhận được đa số phiếu ủng hộ; 3) làm giảm số lượng và sự ảnh hưởng của những
đảng nhỏ.
Tóm lại, các nhà cải cách hy vọng rằng bầu cử Thủ tướng trực tiếp sẽ tạo
ra kết quả gần như bầu cử theo tỷ lệ.
Bầu cử trực tiếp thông qua việc trao quyền bỏ phiếu trực tiếp cho quá
trình thành lập chính phủ được cho là sẽ thay đổi cơ cấu hành pháp và lập pháp.
Thủ tướng trước kia không cần phiếu tín nhiệm để hình thành chính phủ, những
điều khoản này đã được thêm vào để đảm bảo Thủ tướng không trở nên độc đoán.
Tuy nhiên, cải cách vẫn ủng hộ sự tự quyết nhất định của Thủ tướng trong việc
chỉ định và bãi nhiệm bộ trưởng nếu cần.
Nỗ lực cải cách bầu cử
Kế hoạch cải cách được đề ra và kế hoạch cải cách được thông qua không
phải là một. Thực tế là, để cải cách được phê chuẩn các nhà cải cách đã chấp
nhận thay đổi trong kế hoạch của họ. Đây là lý do chính giải thích sự thất bại
của hệ thống bầu cử trực tiếp, bên cạnh những mâu thuẫn căn bản của kế hoạch.
Như đã biết, động lực thúc đẩy một hệ thống bầu cử mới xuất phát từ
khủng hoảng năm 1990. Nội bộ các đảng không thống nhất ủng hộ hay phản đối:
nhóm 3 đảng cánh tả (Shinui, Mapam, và Ratz) có xu hướng ủng hộ, mặc dù các
thành viên phản đối. Những đảng theo đạo Cơ đốc, cho mình là mục tiêu cải cách,
cùng đồng tình phản đối. Đạo tôn giáo Do thái Mafdal, ngược lại tán thành cải
cách. Trong khi Công đảng ủng hộ, đảng Likud không rõ ràng về quan điểm của họ:
mặc dù nhiều đảng viên, trong đó có tân Thủ tướng Benyamin Nentanahu, ủng hộ
bầu cử trực tiếp. Những đảng nhỏ cũng trong số những nhóm phản đôi mặc dù sau đó
có lợi từ cải cách (như đảng Cộng sản cực tả Hadash phía và đảng Techiya và
Moledet cực hữu).
Những kiến nghị bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được đưa ra Quốc hội vào
tháng 5/ 1990. Hai năm sau đó đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận trong đó cả
truyền thông và chiến dịch cơ sở được thực hiện. Chỉ đến 18/3/1992, sau nhiều
lần được đưa ra thảo luận ở Quốc hội, bản kế hoạch cải cách bầu cử mớ được
thông qua.
Nhờ nỗ lực vẫn động hành lang và áp lực từ dư luận, bộ luật bầu cử được
đưa vào trước khi Quốc hội xem xét lần cuối năm 1992. Quá trình bỏ phiếu cho dự
thảo luật không diễn ra suôn sẻ, mà bị phá rối và cáo buộc nặng nề. Do vậy, dự
thảo được gửi lại Ủy ban Hiến pháp để sửa lại. Cuối cùng, quy định bỏ phiếu tín
nhiệm được lấy lại và thông qua.
Đảng Likud nhận trách nhiệm chính cho những bất đồng, tranh cãi cũng
nhưng cách tổ chức thảo luận trong nghị viện. Thủ tướng lâm thời Yitzhak Shamir
cực lực phải đối baafuc ử trực tiếp (vì ông cho rằng sẽ bị đảng Likud vượt
mặt). Một thành viên đảng Likud trong Quốc hội Uriel Lynn, nhà tài trợ chính
cho cải cách đồng ý không chỉ giữ lại hình thức bỏ phiếu tín nhiệm mà còn giảm
số lượng phiếu cần thiết từ 70 còn 61 để trì hoãn thời gian bộ luật mới được áp
dụng cho đến kì bầu cử năm 1996. Sự thay đổi thay phần nào giảm sự bất an của
đảng Likud, lãnh đạo đảng đã cho phép bỏ phiếu tự do, và kế hoạch thành luật
chính thức chỉ 5 ngày trước khi kết thúc mùa đông.
Để thấy rõ hơn lý do thất bại của bầu cử trực tiếp cần nhìn vào những
sửa đổi và bản dự thảo cuối cùng. Mặc dù được đưa ra thảo luận trong Quốc hội
nhiều lần, nhưng yếu tố cốt lõi của kế hoạch – yêu cầu Thủ tướng phải có sự tín
nhiệm của Quốc hội – được giới thiệu vào giờ thứ 11 mà không được góp ý. Trong
khi đó, nhiều nhà ủng hộ cải cách hy vọng rằng sau 4 năm trì hoãn công tác
triển khai luật bầu cử trực tiếp có thể bắt đầu và sẽ có thêm nhiều thành viên
Quốc hội được bầu năm 1992 tán thành kế hoạch này. Tuy nhiên, hy vọng không
được thực hiện. Chính phủ cỉa Công đảng do Yitzhak Rabin lãnh đạo bắt đầu nhiệm
kỳ tháng 6/ 1992 không mấy quan tâm, nỗ lực sửa đôi không hiệu quả. Kế hoạch
được phê tháng 3/ 1992 được áp dụng bầu cử ở Israel từ 1996 đến 1999.
Kết quả cải cách
Được thực hiện nhằm giải quyết tình trạng phân tán quyền lực và sự bảo
thủ của chính phủ, tuy nhiên hệ thống thể chế mới có kết quả không như mong
đợi. HÌnh thức bầu cử mới hy vọng có thể bóng ma lkhungr hoảng trong liên minh
và bầu cử sớm, và tiếp tục bị kì hãm khó có thể đưa ra chính sách nhất quán về
những vấn đề còn gây tranh cãi.
Bên cạnh đó, sự ổn định mà các nhà cải cách mong muốn mang đến để giải
quyết hậu quả của bầu cử sớm bị hạn chế trong quyền lực của Thủ tướng. Khi gần
hết nhiệm kỳ và chu kỳ bầu cử mới sắp bắt đầy, đối tác trong liên minh có trở
nên rời rạc.
Vậy còn những kết quả nào khác mà các nhà ủng hộ cải cách mong muốn đạt
được?
Sau đây là so sánh kết quả của bầu cử trực tiếp với những gì mà các cuộc
bầu cử trước diễn ra vào tháng 6/ 1992.
1.
Tính hợp pháp của Thủ tướng.
Bầu cử trực tiếp sẽ mang lại cho Thủ tướng Israel
hợp phap mà hệ thống bầu cử trước không làm được, một phần do tình trạng nghị
viên phân tán. Năm 1996, ứng viên Netanyahu chiến thắng sát sao 50, 4%, chênh
6% so với ứng viên còn lại. Năm 1999, Ehud Barak chiến thắng ở 56% so với 44%.
Tuy nhiên chưa đầy 21 tháng sau đó, Barak bị bãi nhiệm bởi Thủ tướng sau đó là
Ariel Sharon, ông nhận được 63% phiếu ủng hộ trong đượt baafuc ử có tỷ lệ tham
gia thấp nhất trong lịch sử (59,9%). 3 lần bầu cử sau (với nhiệm kỳ 4 năm) lai
không có được sự ổn định.
Quyền lực của Thủ tướng chỉ tăng lên trên lý thuyết, chứ không có thực
tế. Theo đánh giá của Giovanni Sartori, Thủ tướng như là” một vị tướng không có
quân đội” nếu áp đặt kỷ luật lên các đảng nhỏ hay thậm chí các cá nhân thành
viên Quốc hội. Họ đều là những người có quan điểm mạnh mẽ, có thể chi phối lá
phiếu cử tri và họ thừa biết rừng chỉ cần họ rời vị trí trong Quốc hội, liên
minh của Thủ tướng sẽ lung lay.
2.
Bỏ phiếu đa số là phương pháo duy nhất thay đổi chính phủ hiện tại. Trong một
phản ứng trước thủ đoạn chính trị nội bộ Quốc hội năm 1990, cải cách năm 1992
đề cao ý tưởng chính phủ phải luôn là đại biểu trực tiếp mong muốn của người
dân. Tuy nhiên, hệ thống bầu cử tỷ lệ tiêu chuẩn thấp trước đây không tạo ra
được mối liên kết giữa nhà lập pháp với những mong muốn ấy, các nhà cải cách
kiến nghị rằng quyền lập páp và quyền hành pháp được bầu cử phải cùng tham gia
hoặc cùng rời nghị trường.
Nói
cách khác, hệ thống mới yêu cầu bất kỳ thay đổi nào trong Quốc hội phải được đa
số phiếu tán thành. Ngoài ra, hệ thống bầu cử mới chuyển quyền bầu cử Thủ tướng
cho cử tri thay vì đảng như trước đây. Đảng có vai trò đề cử ứng viên cho quá
trình bầu cử.
Cải
cách năm 1992 đã đạt được mục tiêu này, tuy nhiên, phải chịu một cái giá khác. Mâu
thuẫn nội bộ liên minh phá vỡ mối quan hệ giữa các đảng đồng minh. Vì vậy, bầu
cử trực tiếp mang quyền lực tới cho người dân, tránh sự can thiệp của tầng lớp
quý tộc, tất nhiên làm suy yếu quyền hành pháp của chính phủ.
Đáng nói là theo những số liệu thu thập được, bảo thủ không phải là
hướng đi hữu hiệu cho chính phủ Israel. Mặc dù tồn tại sự khác nhau giữa liên
minh chính trị, được 3 thủ tướng bầu cử trực tiếp Netanyahu, Barak, và Sharon
dựng lên đều có những điểm chung. Cả 3 vị thủ tướng này đều đã trải qua tình
trạng căng thẳng xảy ra trong liên minh đảng: sự phân tách đảng tôn giáo và
đảng không theo tôn giáo, giữa nhóm ủng hộ và nhóm chống đối tiến trình hòa
bình. Nếu chạm đến vấn đề này, xảy ra tình trạng rạn nứt nội bộ đảng là tất
yếu.
Với việc bỏ phiếu bầu Quốc hội được tổ chức riêng và tình trạng tiêu
chuẩn bầu cử thấp, không có Thủ tướng nào có thể thay thế liên minh hiện tại để
tìm đến liên minh vững chắc hơn. Thay vào đó, mỗi Thủ tướng phải làm việc với
chính phủ bất ổn, đặc biệt khi phải đối mặt với những vấn đề hóc búa về đất
nước, tôn giáo, hay tranh chấp với Palestine. Tóm lại, hệ thống không vững chắc
khi cản trở quyền điều hành của Thủ tướng.
3. Giảm
số lượng và ảnh hưởng của đảng nhỏ. Cần phải giảm thiểu số lượng đảng có mặt
trong nghị viện - đặc biệt là các đảng
nhỏ, đồng thời củng cố sức mạnh đảng nòng cốt. Những người ủng hộ cải cách hy
vọng rằng ứng viên vị trí Thủ tướng và đảng viên của Công đảng và đảng Likud sẽ
thu hút được nhiều phiếu ủng hộ trong cuộc chạy đua vào Quốc hội Knessets. Đổi
lại, hệ thống đảng cần được cơ cấu để xây dựng liên minh vững chắc hơn, và ổn
định hơn.
Thực tế là, cơ chế để cử tri duy trì lá phiếu ủng hộ cho Quốc hội và Thủ
tướng sẽ hạn chế việc phân tán liên danh. Sự ra đời của hệ thống bầu cử 2 lần không
thúc đẩy cử tri chọn Công đảng hay đảng Likud thay cho các đảng nhỏ. Trong kỳ
bầu cử năm 1996 và 1999, cử tri không ủng hộ nhiều cho Công đảng và đảng Likud,
vì vậy đa để cho tập hợp nhóm các đảng nhỏ có được nhiều ghế trong Quốc hội.
Nhóm cải cách đáng lẽ nên nhận ra sớm hơn rằng hệ thống 2 lần bầu cử kéo
theo tình trạng chia tách liên danh, tuy nhiên họ đã lờ đi khả năng này. Khi
xảy ra tình trạng phân tán và bất ổn, những người ủng hộ cải cách phủ định rằng
đây là hậu quả của bầu cử trực tiếp. Ngược lại, họ cho rằng, tình trạng Công
đảng hay đảng Likud giảm sức ảnh hưởng so với sự lớn mạnh của nhóm các đảng nhỏ
đã tiếp diễn từ những năm 1980. Nếu bầu cử trực tiếp không được áp dụng, hệ
thống chính trị sẽ còn tệ hơn.
Những thập kỷ qua đã chứng kiến sự suy giảm lòng trung thành của cử tri
với đảng trong bối cảnh chiinsh trị ở Israel, cải cách hướng đến tăng cường ổn
định cần khuyến khích cử tri bỏ phiếu cho đảng cốt lõi. Nhưng một số nhà chính
trị học như Gideon Doron và Michael Harris giải thích rằng:
Nhà cải cách đã không để tâm rằng
…. thay đổi luật lệ và quy định cũng có thể thay đổi cách suy nghĩ và hành xử
của cá nhân, dẫn đến những kết quả trái với mong đợi … Cử tri thực tế thiên về
ủng hộ nhóm các đảng nhỏ trong Quốc hội Knesset, như vậy càng hạn chế khả năng
điều hành của Thủ tướng.
Bầu cử trực tiếp thực sự tạo ra lực hướng tâm, nhưng chỉ trong kỳ bầu cử
Thủ tướng. Hệ thống phân cực, manh mún thiếu liên kết của Israel, xu hướng đó
cần được lưu tâm. Vì vậy, chiến dịch mà trong đó hai đảng và lãnh đạo trong khi
cử tri lại hướng đến các đảng nhỏ nhưng có tư tưởng chính trị sắc bén và không
ngần ngại lên tiếng về những vấn đề nóng hổi gây tranh cãi. Kết quả là, trong
khi nguyên tắc căn bản của bầu cử Thủ tướng trực tiếp khiến cử tri đưa ra lựa chọn
giữa 2 đảng tương đương nhau, thì baafuc ử theo tỷ lệ lại kéo những cử tri đó
theo hướng ngược lại.
Trong khi các yếu tố dài hạn có vai trò quan trọng trong việc suy giảm
của Công đảng và đảng Likud, thì bỏ phiếu 2 lần làm cho vấn đề này trở nên trầm
trọng hơn như kỳ baafuc ử nưm 1996 và 1999. Năm 1992, theo hệ thống cũ, Công
đảng thắng 34,6 % phiếu bầu và 44 ghế (tăng từ 39 ghế năm 1988), trong khi đảng
Likud chỉ ở khoảng 25%, giảm từ 40 ghế còn 32 ghế. Năm 1996, ứng viên Netanyahi
của đảng Likud thắng cử vị trí Thủ tướng với 50,4% phiếu bầu, trong khi danh
sách đảng của ứng viên này bao gồm cả đảng Gesher và Tsomet nắm 40 ghế, là
khoảng 25% và chỉ mất 8 ghế. Năm 1999, Netanyahu bị bỏ lại phía sau với 44%,
ngược lại Likud có sự ủng hộ thấp nhất chỉ với 14% và 19 ghế. Trong thời gian
này, các đảng cánh tả của Likud thu được nhiều kết quả.
ĐẢNG
VÀ SỐ GHẾ TRONG KỲ BẦU CỬ QUỐC HỘI, 1981 - 1999
|
||||||
KỲ
BẦU
CỬ
|
SỐ GHẾ TRONG QUỐC HỘI
|
SỐ ĐẢNG TRONG LIÊN MINH CHÍNH PHỦ
|
||||
CÔNG ĐẢNG
|
LIKUD
|
ĐẢNG KHÁC
|
||||
1981
|
47
|
48
|
25
|
5
|
||
1984
|
44
|
41
|
35
|
6
|
||
1988
|
39
|
40
|
41
|
6
|
||
1992
|
44
|
32
|
44
|
3
|
||
1996
|
34
|
32*
|
54
|
6
|
||
1999
|
26†
|
19
|
75
|
7
|
||
*Năm 1996, Likud liên minh cùng 2 đảng khác là
Gesher và Tzomet, kiểm soát 10 trong số 32 ghế.
* Năm 1999, liên minh có tên là Israel thống nhất bao gồm Công đảng,
đảng Meimad và Gesher. Công đảng có được 10 ghế.
Công đảng cũng bị chững lại trong kỳ bầu cử trực tiếp. Năm 1996, Shimin
Peres gần như thua cuộc với 49, 6% trong khi số phiếu ủng hộ và số ghế tụt xuống
còn 26,8% và 34 ghế. Vì thế, không đảng nào. Những đảng nhỏ mới là bên được
lợi. Vi dụ như những đảng Arab, tăng từ 3 lên 9 ghế từ năm 1988 đến 1996. Kỳ
bầu cử năm 1999 xác nhận hướng đi xuống của các đảng. Ehud Barak thắng đậm với
56% nhưng liên minh các đảng Israel thống nhất chỉ nhận được 10% phiếu ủng hộ
với 26 ghế. Trong số đó, Công đảng có 23 ghế, giảm 11 ghế so với năm 1996, mặc
dù đảng này đã giành chiến thắng trong cuộc đua chọn vị trí Thủ tướng.
Hiệu ứng dựa hơi, nếu có, là đối lập với những gì các nhà cải cách dự
đoán. Số lượng đảng trong Quốc hội Knesset tăng từ 10 đảng năm 1992 lên 13 đảng
năm 1996, và 15 đảng năm 1999. Sự gia tăng về số lượng xảy ra mặc dù ngưỡng
tiêu chuẩn ủng hộ để vào Quốc hội được nâng từ 1 lên 1,5% năm 1991 – đây là cuộc
cải cách nhằm giữ cho danh sách 1 thành viên ra ngoài sau khi số lượng đảng
tăng lên 15 năm 1998. Rõ ràng là bằng việc cho phép cử tri đi bầu 2 lần trong
ngày bầu cử, hình thức bầu cử trực tiếp giảm lượng phiếu bầu chiến lược cho 2
đảng lớn là Công đảng và đảng Likud.
Sự phát triển này cũng giải thích tại sao hình thành liên minh đa số lại
khó khăn hơn. Năm 1992, Công đảng có 44 ghế, cần thêm 17 ghế nữa để được 61
ghế. Năm 1996, đảng Likud có 32 ghế và cần 29 ghế nữa. Năm 1999, Công đảng chỉ
có 26 ghế và như vậy cần thêm 35 ghế. Khi Ariel Sharon thắng áp đảo trong kỳ
bầu cử tháng 2/ 2001, ông đã phải đối mặt với tình trạng Quốc hội tương tự như
năm 1999 và phải bắt đầu xây dựng liên minh xoay quanh đảng Likud lúc đó chỉ có
19 ghế. Hiển nhiên là, Thủ tướng cần sự tán thành của ít nhất 42 nhà lập pháp
trong Quốc hội với 15 đảng. Thủ tướng cần tìm kiếm lá phiếu ủng hộ trong sự
phân tán của các đảng, và sẽ phải xoay xở với liên minh dễ nảy sinh nhiều vấn
đề nội bộ. Đây là một điểm yếu trong hệ thống rất dễ nhận ra.
Từ năm 1992 tới 1999, số lượng đảng được coi là cốt yếu sẵn sàng tham
gia bất kì liên minh chính phủ nào tăng từ 3 (tổng cộng 16 ghế) lên thành 6
(tỏng cộng 38 ghế). Các đảng tôn giáo hay đưa ra nhiều đòi hỏi nhất trong liên
minh tăng tỷ lệ đại diện từ 16 ghế năm 1992 lên 23 năm 1996, và 27 ghế năm
1999. Danh sách đảng phái hay dân tộc cũng tăng lên. Như đac đề cập trước đó,
đảng Arab tăng từ 5 ghế năm 1992 lên 9 ghê snawm 1996 và 10 năm 1999. Đảng dân
nhập cư gốc Nga thắng 7 ghế trogn Quốc hội. 3 năm sau, 10 ghế cũng rơi vào tay
2 đảng khác. Đảng Third Way (mong muốn duy trì Golan Height) có được 4 ghế năm
1996. Mặc dù đảng này biến mất năm 1999, nó được sáp nhập với đảng Centre và
đảng Shinui (mỗi đảng này có 6 ghế).
Hệ thống đảng lỏng lẻo cản trở quá trình xây dựng và duy trì liên minh.
Những người ủng hộ bầu cửu trực tiếp tranh luận rằng hệ thống mới sẽ ngăn chặn
thất bại bầu cử năm 1990. Bầu cử trực tiếp cũng đảm bảo sẽ có kết quả người
chiến thắng rõ ràng. Sẽ không có tranh chấp giữa Công đảng và đảng Likud, như
năm 1990, khi mà các đảng và nhà lập pháp tham gia cả 2 đảng để tăng cường cai
trò chính trị cũng như sự ủng hộ mà họ có thể nhận được.
Kinh nghiệm của Israel thời bầu cửu trực tiếp cho thấy một câu chuyện
khác. Năm 1992, Rabon giới thiệu chính phủ liên minh 3 đảng 23 ngày sau bầu cử.
4 năm sau, Ntanyahu cần 21 ngày để đưa ra liên minh 8 đảng. Năm 199, Barak mất
51 ngày để hình thành liên minh 7 đảng. Chính phủ 7 đảng của Sharon nhận được
số phiếu ủng hộ chỉ 30 ngày sau chiến thắng kỳ bầu cử năm 2001. Nhìn chung, sự
xuất hiện của ứng viên thắng cử người đề ra nội các cho chính phủ dường như
không có quyền hành gì trong việc hoàn thiện liên minh. Thực sự, những liên
minh như vậy chỉ tăng về kích thước chứ không phải tính hiệu quả.
Yêu cầu cần phải đáp ứng các cộng sự trong liên minh bằng việc cung cấp
ghế trong Quốc hội hay tàu chính cho chương trình và quá trình vận hành của hộ
tạo ra lượng chi tiêu công rất lớn. Dồng thời, cũng tạo ra sự chuyển dịch sức
mạnh sang các đảng nhỏ. Vì vậy, mặc dù Thủ tướng có sức mạnh chỉ trên danh
nghĩa, người ủng hộ hay vì mục đích duy trì liên minh sẽ định hướng ôn ta đi
theo.
Liên minh có thể giải quyết sự khác biệt về tư tưởng giữa các đảng thành
viên, tất cả các đảng đều cần phải cân nhắc, nhượng bộ để đổi với quyền lực.
Bầu cử trực tiếp (như báo cso ngan sách trung ương chứng nhân) làm tăng đặc
tính này của liên minh. Chi phí như khó khăn, hay ngân quỹ trung ương của việc
duy trì một liên minh chính phủ không bền vững ảnh hưởng đến quyền hành pháp
trogn qua trình giải quyết các vấn đề chính tị. Vấn đề này trở nên phức tap hơn
ở Israel xuất phat từ sự chia rẽ trong Quốc hội. Trong một Quốc hội, liên minh
ổn định cần vượt qua cả quyền lực Thủ tướng. Ngược lại, liên minh bất ổn chỉ
dừng lại ở cấp độ dưới quyền hành của Thủ tướng.
Cải cách hy vọng đạt được kết quả khác so với những gì hệ thống bầu cử
tỷ lệ từng mang lại. Trong suốt lịch sử của Israel, những cuộc cải cách bầu cử
thường bị cản trở bởi lợi ích nhóm. Những nhà cải cách vì thế cho rằng khi nâng
cao quyền lực và tính hợp pháp, Thủ tướng sẽ không cần phụ thuộc vào nhóm ủng
hộ. Nỗ lực cải cách hệ thống đảng sẽ tăng cường quyền lực cho Thủ tướng sẽ được
thêm vào luật. Hệ thống đảng tinh gọn nhằm hạn chế tình trạng gây áp lực đến từ
các đảng thành viên của một liên minh. Quyền hành pháp được thực hiện hiệu quả
mà không cần xóa bỏ hẳn nguyên tắc tỷ lệ được ghi trong Hiến pháp.
Như đã thấy, kết quả bầu cử năm 1996 và 1999 không đáp ứng những kỳ vọng
trên. Đến giữa năm 2000, những sự kiện xảy ra dưới thời Thủ tướng Ehud Barak
của Công đảng lại trở thành chất xúc tác cho phong trào phản đối bầu cử trực
tiếp và đặt dấu chấm hết cho hình thức bầu cử này ngày 7/ 3/ 2001.
Nhiệm kỳ của Thủ tướng Barak và
sự kết thúc của bầu cử trực tiếp.
Bối cảnh khó khăn xảy ra trong nhiệm kỳ Thủ tướng Barak phản ánh thất
bại của cuộc cải cách. Mặc dù được đề cập trong thành tựu 12 điểm, Thủ tướng
Barak giữ được Quốc hội Knesset trong tầm kiểm soát của các đảng tôn giáo và
cánh tả từng là thành phần chính phủ dưới thời Thủ tướng Netanyahu trước đó.
Thủ tướng Barak mất gần 2 tháng. Cuối cùng, ông nhận được 75 phiếu tín nhiệm
của 7 đảng. Nhóm các đảng Arab và đảng Shinui không được tính. Nhóm các đảng
tôn giáo – Shah (17 ghế), Torah Judaism thống nhất (5), và đảng Mafdal (5), cũng
như đảng người nhập cư Be’aliyah (6) đều có mặt cùng đảng Meretz (10) và đảng
Trung tâm (6).
Khi kích thước của liên minh quá lớn, thì sẽ rất khó để thay đổi chính
phủ , đặc biệt không có một đảng nào có khả năng hay số phiếu và số ghế cần
thiết. (Thủ tướng Barak không bao gồm đảng Shinui và Arab trong liên minh,
nhưng vẫn phụ thuộc vào số phiế của họ để duy trì chính phủ nếu tình trạng ly
khai diễn ra). Tuy nhiên, đây mới chỉ là một viễn cảnh có thể xảy ra. Gần 12
tháng sau khi nhậm chức, Thủ tướng Barak tham gia cuộc đối thoại Camp David
thàng 7/ 2000 với 29 ghế thành viên trong Quốc hội thuộc Công đảng, đảng Israel
thống nhất, và đảng Trung tâm. Và Quốc hội Israel ngày càng trở nên căng thẳng
hỗn loạn hơn bao giờ hết, với một vài nhà lập pháp đã phá vỡ mối liên hệ giữa
các đảng đồng thời yêu cầu lợi ích cao hơn khi tham gia chính phủ.
Tại sao liên minh của Thủ tướng
Barak đổ vỡ?
Khả năng lãnh đạo của Barak là lý do chính cho sự phân tách giữa hai vấn
đề. Vấn đề thứ nhất là về mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước, vấn đề thứ hai
là triển khai quá trình hòa bình.
Dù nội bộ căng thẳng , tranh chấp giữa các đảng cực chính thống, đảng
Shas do nhóm Sepharic dẫn đầu, đảng cánh tả Meretz, Liên minh khập khiễng điều
hành Quốc hội trong 9 tháng. Khủng hoảng tồi tệ nhất xảy ra vào đêm Thủ tướng
Barak tới gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton tại trại David đầu tháng 7/ 2000, khi
đó đảng Shas, Mafdal và Israel Be’ Aliyah rời liên minh.
Nhờ vào tài xoay chuyển của mình trùng hợp khi đối thủ thiếu sót đồng
minh, Thủ tướng Barak vẫn đứng vững dù nhận nhiều phiếu không tín nhiệm trong
vài tháng. Những người ủng hộ bầu cử trực tiếp cho rằng hệ thống mới này mới
tạo ra ổn định và củng cố vị trí cho Thủ tướng Barak. Cuối cùng, đến tháng 12/
2000, Barak quyết định từ chức, nhưng không giải tán Quốc hội Knesset. Với bước
đi này, mục tiêu chủ yếu là để Sharon chứ không phải là Netanyahu trở thành đối
thủ của Barak trong kỳ bầu cử Thủ tướng mới. Vì rời Quốc hội, nên Netanyahu sẽ
không đủ điều kiện để tranh cử trừ khi Quốc hội giải tán.
Từ sau sự bùng nổ của nhóm chống đối al-Aqsa Intifafah cuối tháng 9/200,
chính quyền Thủ tướng Barak trở nên yếu đuối và không thể đương đầu với những
vấn đề an ninh và ngoại giao sau sự thất bại của Hiệp định Oslo. Nội các của
Barak cũng không giải quyết được những vấn đề căn bản như ngân sách năm 2001,
mà phải để lại cho đến kỳ bầu cử Quốc hội sau.
Hành pháp không xử lý được những vấn đề cấp thiêt như vậy là có nguồn
gốc sâu xa. Bầu cử trực tiếp thực chất đã khuếch đại phân tán chính trị, và tạo
nên một hệ thống mà Thủ tướng điều hành không hiệu quả, đất nước lâm vào tình
trạng bất ổn và phải tổ chức bầu cử thường xuyên. Khủng hoảng an ninh và ngoại
giao càng làm lộ rõ điểm hạn chế của hệ thống. Khi Sharon bắt đầu nhiệm kỳ Thủ
tướng mùa xuân năm 2001, Israel có sự chuyển đổi trong Quốc hội. Bầu cử trực
tiếp bị ngừng lại, hình thức bỏ phiếu không tinsn nhiệm được thêm vào, và kiến
nghị không tín nhiệm yêu cầu đa số 61 phiếu tán thành. Bên cạnh đó, Thủ tướng
vẫn có quyền giải tán Quốc hội. Bầu cử trực tiếp khi thửu nghiệm không phù hợp
đã bị loại bỏ.
Đa số tán thành bãi bỏ hình thức bỏ phiếu trực tiếp, với 72 phiếu, 37
phiếu không tán thành , 3 phiếu trống. Những nhóm ủng hộ thay đổi này là Công
đảng, đảng Likud, Meretz, đảng liên đoàn quốc gia cánh tả, và đảng Herut, 4 nhà
lập pháp từ đảng Trung tâm và 4 đại diện đảng Arab. Đảng Torah thống nhất cực
chính thống ủng hộ bãi bỏ, đổi lại cần nhận được sự tán thành luật tôn giáo từ
đảng Likud; đảng Shas cùng với 2 trong số 5 nhà lập pháp Mafdal bỏ phiếu phản đối.
Những người phản đối chủ yếu từ nhóm các đảng nhỏ, bao gồm cả đảng người nhập
cư và đảng Shinui.
Với một vài trường hợp cá nhân ngoại lệ, các nhà lập pháp từ đảng nhỏ
và "ngành" phản đối việc bãi
bỏ, trong khi các thành viên của các bên tư tưởng lớn hơn tán thành. Rõ ràng,
những người có thể chịu thiệt từ sự trở lại của các hệ thống trước đó hầu hết
đã cố gắng để tiếp tục cho cuộc bầu cử trực tiếp. Đó là một bằng chứng hùng hồn
cho hậu quả không lường của bầu cử trực tiếp.
Liệu hệ thống nửa cũ nửa mới được phục hồi tháng 3 năm 2001 sẽ duy trì
và củng cố quyền điều hành? Thời gian sẽ trả lời. Trong khi đó, những gì là
đáng ngạc nhiên nhất trong chương cuối cùng về kinh nghiệm ngắn ngủi của Israel
với cuộc bầu cử trực tiếp là luật thay thế nó chưa được thảo luận thấu đáo
trước khi phê duyệt. Như để chứng minh cho sự thất bại của cuộc bầu cử trực
tiếp, chỉ có 3 ban là cần thiết để đạt được một thỏa thuận về luật mới mà gần
như không cần được công bố rộng rãi để quần chúng tranh luận.
Kinh nghiệm của Israel không ủng hộ việc áp dụng mô hình này ở các nền
dân chủ nghị viện khác vì nó gây ra một xã hội phân rã và một hệ thống PR rời
rạc. Không nghi ngờ rằng sự thất bại của Israel xuất phát từ thực tế rằng cuộc
bầu cử trực tiếp đã trở thành một thay thế cho cải cách bầu cử cơ bản.
Nếu có một bài học quan trọng được rút ra từ thí nghiệm thất bại của
Israel, đó chính là cuộc bầu cử trực tiếp Thủ tướng có thể tăng cường sự điều
hành chỉ khi họ có thể chi phối mà không cần quốc hội. Điều này tất nhiên làm
tăng thêm nguy cơ của một chủ nghĩa dân túy hoặc thậm chí độc tài, nhưng nó là
nguy cơ sẽ phải được giải quyết bởi bất kỳ chính thể nào trên con đường cải
cách.
Nếu cuộc bầu cử trực gắn với chính phủ nghị viện, như Israel đã cố gắng
để làm, hệ thống bầu cử quốc hội cũng phải được điều chỉnh để khuyến khích một
hiệu ứng dựa hơi cho các đảng có thành viên chạy đua vị trí Thủ tướng. Sự điều
chỉnh đó phải như thế nào? Hay liệu nó có khả thi?
Đây là những câu hỏi khó trả lời một cách trừu tượng. Có thể tiếp cận
bằng cách bắt buộc các bên tạo thành các liên minh trước cuộc bầu cử. Như vậy
sẽ hạn chế được tình trạng chia vé. Nhưng hệ thống này cũng có những hạn chế
của nó, đặc biệt là nếu có nhiều hơn hai ứng cử viên chạy đua vị trí thủ tướng.
Ngoài ra còn cần gì hơn nữa, để đảm bảo rằng các liên minh sẽ liên kết lại với
nhau sau khi cuộc bầu cử?
Nền dân chủ nghị viện khác, trong đó có Nhật Bản, không nên chỉ quan tâm
ví dụ của Israel để xem xét tính khả thi của bầu củ trực tiếp. Chính hệ thống
lá phiếu của Israel khiến cho bầu cử trực tiếp thất bại. Một trong những bài
học rõ ràng về trường hợp của Israel là cuộc bầu cử trực tiếp chỉ thành công
nếu nó đi kèm với một hệ thống bầu cử quốc hội, đảm bảo Thủ tướng nhận được đa
số phiếu bầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét